Lễ Điểm Đăng năm ấy
Bốn năm trước cũng là một ngày cuối thu như thế này.
Đăng Miếu của trấn Liễu Độ nằm trên gò đất cao ở cuối trấn, bốn bề là rừng trúc già. Miếu không lớn, chỉ có một chính điện với hai dãy nhà ngang, mái ngói phủ rêu xanh và hàng cột lim đã đen bóng vì khói hương mấy trăm năm. Ngày thường nơi đây vắng lặng, chỉ có lão miếu chúc râu tóc bạc phơ sớm tối lên thay dầu cho ngọn đèn đồng, nhưng hôm ấy từ lúc tinh mơ sân miếu đã chật kín người.
Hôm ấy là Lễ Điểm Đăng.
Theo luật lệ của Thánh Đăng Đình, mỗi năm một lần trẻ con tròn mười hai tuổi trong vùng sẽ được đưa đến Đăng Miếu để đặt tay lên ngọn đèn đồng trước tượng Đăng Mẫu. Đứa nào có duyên thì đèn đồng sẽ dẫn hồn đăng của nó bén lửa, và khi ngọn lửa hiện ra nơi lòng bàn tay thì kẻ phàm nhân ấy chính thức bước lên con đường tu luyện.
Tên người bén lửa được miếu chúc ghi vào một cuốn sổ bìa vàng gọi là Đăng Phả. Cuối năm Đăng Phả được gửi lên huyện, từ huyện chuyển lên kinh thành rồi từ kinh thành gửi thẳng về Thánh Đăng Đình ở Trung Châu xa xôi. Người trấn Liễu Độ vẫn thường nói rằng tên được ghi vào Đăng Phả tức là được Đăng Mẫu ghi nhớ.
Năm ấy cả trấn có ba mươi mốt đứa trẻ tròn mười hai tuổi, và Tạ Tri Hà đứng cuối hàng.
Hắn không đến muộn. Hai cha con đã có mặt từ khi mặt trời vừa nhô khỏi rừng trúc, nhưng đến trước cổng miếu thì Tạ Lão Cửu bỗng dừng bước. Lão cứ đứng yên ở đó, một tay chống gậy còn một tay đặt trên vai hắn, mắt nhìn lên mái ngói phủ rêu mà không bước vào cũng chẳng quay về. Mãi đến khi hàng trẻ con kéo dài tới tận bậc thềm và miếu chúc bắt đầu gõ mõ gọi tên, lão mới khẽ đẩy hắn vào trong.
"Nghĩa phụ làm sao vậy?" Tạ Tri Hà khi ấy hỏi.
"Không sao." Tạ Lão Cửu gãi đầu. "Ta sợ ngươi không bén lửa thì mất mặt."
Tạ Tri Hà bật cười, bởi đứa trẻ mười hai tuổi nào mà chẳng tin mình sẽ bén lửa. Mãi về sau hắn mới nhớ ra rằng sáng hôm ấy bàn tay nghĩa phụ đặt trên vai hắn lạnh như băng, trong khi trời tháng chín vẫn còn chưa lạnh.
...
Trong chính điện khói hương lượn lờ. Hàng ghế trên dành cho trấn trưởng, mấy vị trưởng lão trong trấn và vị giáo tập từ phân viện Thủy Đăng trên huyện về chủ trì buổi lễ. Hàng dưới là cha mẹ những đứa trẻ, còn bọn trẻ thì đứng thành hàng giữa sân, đứa nào cũng áo mới tóc chải gọn gàng mà mặt mày vừa háo hức vừa sợ sệt.
Miếu chúc khoác áo lễ đứng cạnh bệ thờ, cất giọng sang sảng:
"Trần Thiết!"
Thằng bé nhà thợ rèn run rẩy bước lên rồi đặt tay lên ngọn đèn đồng. Ngọn đèn được đúc hình hoa sen, cao ngang ngực trẻ con, bên trong có một ngọn lửa vàng nhạt cháy âm ỉ mà tương truyền đã cháy liên tục ba trăm năm chưa từng tắt lấy một lần.
Một hơi thở rồi hai hơi thở trôi qua mà vẫn không có gì xảy ra.
Cả sân khẽ thở dài. Mẫu thân Trần Thiết cúi đầu dắt con lui xuống. Đứa thứ hai cũng không có gì, rồi đứa thứ ba, thứ tư, thứ năm cũng vậy. Chuyện ấy vốn là thường tình, bởi mười đứa trẻ may ra mới có một đứa bén lửa, có năm cả trấn chẳng được một ai.
Đến đứa thứ chín thì ngọn đèn đồng bỗng bùng sáng.
"Bén rồi!"
Đứa thứ chín là Hồ Đại Sơn, con nhà ngư phủ cạnh bến, mới mười hai tuổi mà người đã cao lớn như một con nghé. Nó trợn tròn mắt nhìn ngọn lửa đỏ rực đang nhảy múa trên lòng bàn tay mình, há hốc mồm hồi lâu mới thốt được một câu:
"Nóng... nóng quá!"
Cả sân cười rộ lên. Cha mẹ Hồ Đại Sơn ôm chầm lấy nhau mà khóc, Hồ thẩm khóc to đến nỗi trấn trưởng phải ho khan mấy tiếng nhắc nhở.
"Hỏa sắc đỏ, thiên hướng công phạt." Miếu chúc vuốt râu gật gù. "Căn cốt cường tráng thế này lại mang lửa đỏ thì ngày sau tất không phải hạng tầm thường."
Ông giở Đăng Phả ra, chấm bút lông vào mực son rồi nắn nót ghi ba chữ Hồ Đại Sơn.
Ở hàng ghế trên, vị giáo tập áo lam cũng khẽ gật đầu. Đó là một nam tử trung niên mặc áo bào lam đã bạc màu ở khuỷu tay, ngồi thẳng như cây thương, gương mặt khắc khổ như được tạc ra từ đá. Từ sáng đến giờ ông chưa nói một lời nào mà chỉ lặng lẽ quan sát.
Sau đó lại có thêm ba đứa trẻ bén lửa. Tiểu thư nhà họ Phan bán vải ra lửa lục, miếu chúc bảo là thiên hướng trị liệu rồi ghi tên. Hai đứa còn lại ra lửa lam, thiên hướng phòng ngự, cũng được ghi tên. Mỗi lần miếu chúc giải thích là đám người phía dưới lại xôn xao bàn tán.
"Bốn đứa! Năm nay trấn Liễu Độ có tới bốn đứa!"
"Năm ngoái chỉ được một đứa, năm kia thì chẳng có ai."
"Đăng Mẫu phù hộ, trấn ta sắp có người làm nên đại sự rồi!"
Rồi cũng đến lượt đứa cuối cùng.
"Tạ Tri Hà."
...
Tạ Tri Hà bước lên.
Hắn vẫn nhớ rất rõ cảm giác lúc ấy. Nền đá dưới chân mát lạnh, khói trầm hương đặc quánh trong không khí, tượng Đăng Mẫu sơn son thếp vàng từ trên cao nhìn xuống bằng đôi mắt khảm ngọc trai lấp lánh. Ngọn đèn đồng hình hoa sen ở gần đến mức hắn cảm nhận được hơi nóng phả lên mặt.
Hắn đặt tay lên thân đèn. Thoạt tiên hắn thấy lạnh, rồi lại thấy nóng, rồi một thứ gì đó trong lồng ngực bỗng nứt "tách" một tiếng như hạt đậu vỡ vỏ.
Hắn cúi nhìn xuống thì thấy một ngọn lửa đang cháy trên lòng bàn tay mình.
Ngọn lửa ấy màu đen. Nó không đen như than mà đen như đáy giếng lúc nửa đêm, không hề tỏa sáng mà ngược lại còn nuốt lấy ánh sáng xung quanh, khiến cả bàn tay hắn chìm vào bóng tối như vừa nhúng vào mực.
Phụt!
Ngọn đèn đồng ba trăm năm trên bệ thờ chấn động dữ dội. Ngọn lửa vàng bên trong rạp hẳn xuống rồi co lại chỉ còn bằng hạt gạo, như thể có ai vừa thổi vào nó một hơi rất dài, và từ miệng đèn bốc lên một làn khói trắng. Nó suýt nữa thì tắt.
Toàn bộ sân miếu chết lặng.
Lão miếu chúc đứng sững như tượng gỗ, khuôn mặt hồng hào phút chốc trắng bệch. Bàn tay cầm bút lông của ông run lẩy bẩy làm một giọt mực son rơi xuống trang Đăng Phả rồi loang ra như vệt máu. Môi ông mấp máy hồi lâu mới bật ra được hai chữ khàn khàn như tiếng quạ kêu:
"Đèn... tang..."
Đám đông lập tức bùng nổ.
"Đèn tang! Nó là đèn tang!"
"Trời đất ơi, là lửa đen thật!"
"Tránh xa nó ra!"
Những người ngồi gần nhất bật dậy lùi lại như gặp phải rắn độc. Một phụ nhân ôm chặt đứa con vừa bén lửa của mình kéo tuột ra tận cổng. Một lão nhân run rẩy chắp tay trước ngực lẩm bẩm khấn Đăng Mẫu, còn có người va đổ cả mâm lễ khiến xôi gà lăn lóc dưới đất.
Tạ Tri Hà đứng giữa chính điện với ngọn lửa đen vẫn cháy trên tay mà không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Câu chuyện Tôn bà bà kể mỗi mùa Thủy Tế hắn đã nghe từ thuở nhỏ, nhưng chưa bao giờ hắn nghĩ nó lại có liên quan đến mình.
Hắn chỉ nhớ rằng giữa dòng người đang tháo chạy có một bóng người đi ngược lại. Đó là Hồ Đại Sơn. Thằng nhóc cao lớn như con nghé ấy chen qua đám người lớn đến đứng bên cạnh hắn, cúi đầu nhìn chăm chú ngọn lửa đen rồi nói một câu mà cả đời này Tạ Tri Hà không quên được:
"Đẹp thật. Đen bóng như hạt nhãn."
...
Miếu chúc không ghi tên Tạ Tri Hà vào Đăng Phả. Ông cầm bút lên rồi đặt xuống, lại cầm lên, cuối cùng quay sang vị giáo tập áo lam như muốn cầu cứu.
Vị giáo tập đứng dậy bước xuống từ hàng ghế trên, đi thẳng tới trước mặt Tạ Tri Hà trong khi đám đông tự động dạt sang hai bên. Ông không nói gì mà chỉ cúi xuống nhìn ngọn lửa đen trên tay hắn. Ông nhìn rất lâu, lâu đến mức mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng Tạ Tri Hà và ngọn lửa đen cũng tự co rụt lại, nhỏ dần rồi tắt hẳn trên lòng bàn tay hắn.
Bấy giờ ông mới thẳng lưng lên và lắc đầu.
"Lửa này không dung nạp linh khí." Giọng ông khô khốc và đều đều. "Ta không biết nó là thứ gì. Thứ ta không biết thì ta không nhận."
Ông quay sang miếu chúc nói thêm một câu khẽ đến mức chỉ những người đứng gần mới nghe được:
"Không cần ghi tên nó vào Đăng Phả, ghi vào rồi lại mất công xóa."
Lão miếu chúc vội vàng gật đầu rồi gập cuốn sổ bìa vàng lại, như thể sợ cái tên kia tự nhảy vào trang giấy.
Tạ Tri Hà đứng đó với hai tay buông thõng. Hắn không khóc, chỉ thấy cổ họng nghẹn lại như vừa nuốt phải một hòn than nóng.
"Không biết thì đi mà học!"
Tiếng quát vang lên từ góc điện. Tạ Lão Cửu cả buổi sáng lặng lẽ đứng sau cột lim, giờ chống gậy khập khiễng bước ra rồi đi thẳng tới bàn của miếu chúc mà đập bàn tay đen sạm xuống. Nghiên mực nảy lên đổ lênh láng khắp mặt bàn.
"Con ta lửa đen thì đã sao? Lửa thì vẫn là lửa! Các ngươi đọc bao nhiêu sách vở mà không hiểu nổi nó thì đừng có đổ lên đầu một đứa trẻ!"
Lão miếu chúc tái mặt lùi lại, còn vị giáo tập áo lam thì quay đầu nhìn Tạ Lão Cửu. Hai người nhìn nhau chỉ trong một khoảnh khắc, nhưng Tạ Tri Hà có cảm giác ánh mắt vị giáo tập dừng lại trên cái chân thọt của nghĩa phụ lâu hơn bình thường.
Sau đó bốn hán tử trong trấn xông vào khiêng lão già ra ngoài. Tạ Lão Cửu vừa vùng vẫy vừa chửi rủa, cây gậy gỗ ổi văng xuống bậc thềm. Tạ Tri Hà nhặt cây gậy lên rồi chạy theo.
...
Con đường từ miếu về bến dài chừng nửa dặm và hai cha con đi rất chậm.
Người trong trấn đứng hai bên đường mà không ai nói một lời, nhưng Tạ Tri Hà vẫn nghe thấy tiếng cửa đóng sầm và tiếng then cài lạch cạch. Có một bà lão bưng chậu nước ra đứng đợi hai cha con đi qua rồi hắt mạnh xuống đất ngay chỗ hắn vừa đặt chân, giống hệt cách người ta hắt nước sau đám tang để xua vận rủi. Một viên sỏi không biết từ đâu bay tới trúng vai hắn, rồi sau bụi chuối vang lên tiếng trẻ con cười khúc khích cùng tiếng chân chạy xa dần.
Tạ Tri Hà dừng bước định quay đầu lại.
"Đừng nhìn." Tạ Lão Cửu nắm chặt cánh tay hắn, giọng khàn đặc. "Nhìn thẳng mà đi, ngẩng đầu lên. Ngươi không làm gì sai thì không cần phải cúi."
Tạ Tri Hà ngẩng đầu lên.
Hai cha con cứ thế đi hết nửa dặm đường giữa hai hàng cửa đóng im lìm, một người già thọt chân và một đứa trẻ ngẩng mặt. Nắng trưa chói chang trên đầu nên bóng hai người đổ xuống mặt đất dính liền vào nhau như một.
...
Đêm hôm ấy Tạ Lão Cửu say khướt.
Lão không chịu vào nhà mà nằm dưới gầm nhà sàn giữa đống lưới rách, ôm bình rượu chửi miếu chúc, chửi vị giáo tập áo lam rồi chửi luôn cả tượng Đăng Mẫu sơn son thếp vàng cho đến khi khản cả giọng. Tạ Tri Hà ngồi bên cạnh im lặng nghe. Hắn nắm chặt tay lại, trong lòng bàn tay vẫn còn vương cảm giác lạnh buốt của ngọn lửa đen.
Gần nửa đêm thì Tạ Lão Cửu thôi chửi. Lão nằm ngửa nhìn lên mấy thanh ván sàn đen sì phía trên, miệng lẩm bẩm điều gì đó nên Tạ Tri Hà phải ghé tai lại mới nghe được.
"...Tuân lệnh..." Lão lè nhè. "Không... không tuân... không tuân nữa..."
"Nghĩa phụ nói gì vậy?"
Tạ Lão Cửu giật mình quay sang nhìn hắn. Trong một thoáng, đôi mắt đục ngầu vì rượu bỗng trở nên tỉnh táo lạ thường và sắc bén như lưỡi đao vừa rút khỏi vỏ. Rồi lão nhắm mắt lại.
"Nói mê thôi, ta say rồi." Lão phẩy tay. "Đi ngủ đi."
Tạ Tri Hà không đi ngủ. Hắn ngồi đó cho đến khi nghĩa phụ ngáy đều mới lấy tấm chăn cũ ra đắp cho lão.
...
Từ hôm ấy cả trấn Liễu Độ gọi hắn là đèn tang.
Bốn đứa trẻ bén lửa năm ấy được vị giáo tập áo lam đưa lên lớp dự khoa của phân viện trên huyện. Ngày Hồ Đại Sơn lên đường, cả nhà họ Hồ ra bến tiễn. Thằng nhóc đứng ở mũi thuyền vẫy tay gào to đến nỗi cả bến đều nghe thấy:
"Hà ca! Đợi đệ lên huyện học xong, đệ chép bí kíp gửi về cho huynh!"
Hồ thẩm vội kéo con ngồi xuống, liếc về phía Tạ Tri Hà một cái rồi quay mặt đi.
Vị giáo tập áo lam đứng ở đuôi thuyền chắp tay sau lưng. Lúc thuyền tách bến, ánh mắt ông lướt qua đám đông và dừng lại một thoáng trên người thiếu niên gầy gò đứng tận cuối bậc đá, sau đó ông quay đi và không nhìn lại nữa.
Hồ Đại Sơn giữ lời. Ba tháng sau nó gửi về một tờ giấy chép tay chi chít chữ to như gà bới, và Tạ Tri Hà đã đọc đi đọc lại rồi luyện đi luyện lại suốt bốn năm trời. Thế nhưng ngọn lửa đen chưa từng lớn thêm chút nào.
Cũng từ hôm ấy hắn lên đò cầm chèo thay cho cái chân thọt của nghĩa phụ. Thuở đầu hắn chèo vụng đến mức đò quay tròn giữa dòng làm khách kêu la thất thanh. Tạ Lão Cửu ngồi ở mũi đò không hề trách mắng mà chỉ nói:
"Nước sông không phải kẻ thù của ngươi đâu. Phải biết nghe nó, nó chảy thế nào thì ngươi chèo thế ấy."
Một năm sau, cả trấn Liễu Độ không ai chèo đò giỏi bằng hắn. Hai năm sau người ta vẫn gọi hắn là đèn tang, nhưng hễ đến mùa nước lớn thì khách sang sông nào muốn giữ mạng vẫn phải chọn đò của hắn.
...
Bốn năm sau, dưới ánh trăng non của đêm Thủy Tế, Tạ Tri Hà buộc dây đò vào cọc rồi xách ống tre đựng tiền bước lên bậc đá. Từ căn nhà sàn sát mép nước vọng ra mấy tiếng ho khù khụ, tiếp theo là một giọng khàn khàn quen thuộc:
"Về rồi đấy à? Hôm nay được mấy chuyến?"