LNCrawler

Bữa cơm và tờ giấy nợ

Đăng Hỏa Trường Hà — vtruyen.vn · All chapters

Bữa cơm và tờ giấy nợ

"Mười một chuyến." Tạ Tri Hà đáp rồi xách ống tre vào nhà.

Căn nhà sàn của hai cha con họ Tạ nhỏ đến mức đứng giữa nhà dang tay ra là chạm được hai bên vách. Trong nhà có một chiếc giường gỗ, một cái bếp đất, một tủ bát và mấy tấm lưới rách treo trên vách, ngoài ra chẳng còn gì. Ván sàn cong vênh nên bước lên là kêu kẽo kẹt, còn gió sông thì cứ lùa qua khe nứt mang theo mùi bùn ẩm.

Tạ Lão Cửu ngồi bên bếp lửa với một chân duỗi thẳng. Lão đã ngoài sáu mươi, tóc bạc quá nửa, mặt đen sạm vì nắng gió và hằn những nếp nhăn sâu như vết đao khắc. Lão cầm chén rượu gạo trên tay, mắt lim dim, liếc vào ống tre rồi lắc nghe tiếng xu mà cười khẩy.

"Mười một chuyến mà chỉ được ngần này? Lại có kẻ ném tiền xuống sàn rồi ngươi lại cúi xuống nhặt chứ gì."

Tạ Tri Hà không đáp mà ngồi xuống bếp xới cơm.

"Lần sau kẻ nào ném thì ngươi đạp nó xuống sông cho ta." Tạ Lão Cửu nhấp một ngụm rượu.

"Thế thì hắn chết đuối."

"Chết đuối càng tốt, bớt được một cái miệng thối."

"Rồi quan huyện xuống bắt người."

"Thì nói nó tự ngã." Lão nhún vai. "Đò nhà ta ba mươi năm chưa từng lật, nó ngã là do nó ngu."

Tạ Tri Hà không nhịn được mà khẽ nhếch khóe miệng.

Bữa tối có một đĩa cá chép kho, một bát canh chua nấu me rừng và một đĩa rau dại luộc. Cá là Tạ Lão Cửu câu được lúc chiều, bởi cái chân thọt tuy không chèo đò được nữa nhưng ngồi câu thì cả bến không ai bằng lão.

Ăn được một lúc thì Tạ Tri Hà bỗng hỏi:

"Nghĩa phụ, người tu luyện phải đến cảnh giới nào thì mới vác nổi cả chiếc đò lên vai?"

Tạ Lão Cửu nheo mắt lại. "Lại có kẻ nói gì trên đò à?"

"Không có, con chỉ hỏi vậy thôi."

Lão trầm mặc nhai cá một lúc rồi dùng đầu đũa chấm một chấm lên mặt bàn.

"Ngươi cứ hình dung trong hồn mỗi người đều có một cây đèn. Tu luyện chính là tôi luyện từng bộ phận của cây đèn ấy từ trong ra ngoài. Đầu tiên là luyện lửa, gọi là Khởi Hỏa cảnh. Lửa dày thêm một tầng thì được thêm một diễm, cứ thế từ nhất diễm lên tới cửu diễm, người đạt cảnh giới này được gọi là Hỏa Đồ. Tiểu tử Đại Sơn bây giờ chắc cũng được dăm bảy diễm rồi."

Lão chấm thêm một chấm nữa.

"Khi lửa đủ cửu diễm thì đèn sẽ mọc bấc. Cảnh giới ấy gọi là Nhiên Bấc, người đạt được gọi là Đăng Sư. Mỗi một bấc giữ được một đăng thuật đang cháy, năm bấc tức là năm đăng thuật cùng lúc. Đến được đó rồi thì vác cái đò chẳng khác gì vác một bó củi."

"Rồi sau đó thì sao?"

"Sau đó là luyện dầu, gọi là Ngưng Du cảnh, người đạt được thành Đăng Tướng. Có dầu rồi thì lửa tự cháy, đánh nhau cả ngày cũng không cạn. Nghe nói muốn ngưng tụ dầu thì phải xin Thánh Du của Thánh Đăng Đình, không có thứ đó thì cả đời đứng yên ở đấy." Lão hớp một ngụm canh. "Tiếp theo là dựng lồng đèn quanh thân, gọi là Khai Lung cảnh, thành Lung Chủ, một người có thể trấn giữ cả một tòa thành. Rồi đến khi ánh sáng tỏa ra khắp một phương thì gọi là Phổ Quang cảnh, thành Đăng Vương. Còn cao hơn nữa thì..." Lão nhún vai. "Đèn hóa thành sao, gọi là Tinh Quân, phi thăng lên trời mà ở. Phía trên nữa thì toàn là truyền thuyết cả."

"Cả nước Thương Lan thì ai là người mạnh nhất?"

"Nghe nói có ba vị Lung Chủ được tôn làm quốc bảo. Nhưng ra ngoài kia thì chưa chắc họ đã là gì." Lão lại nhún vai. "Thương Lan chỉ là một chấm nhỏ ở góc châu Vạn Quốc mà thôi. Thiên hạ có tới cả trăm nước, có đế quốc rộng gấp năm mươi lần nước ta, có nước cưỡi linh cầm mà xuất chinh. Còn ở chính giữa là Thánh Đăng Đình, mọi Đăng Miếu trong thiên hạ kể cả cái miếu cuối trấn này đều là chi nhánh của họ."

Lão chỉ đũa lên mái nhà.

"Cổ nhân nói mỗi vì sao trên trời là một ngọn đèn, nhưng đèn ấy của ai thì không ai biết."

Tạ Tri Hà ngẩng lên nhìn qua khe mái. Những vì sao li ti lạnh lẽo trên cao không hề chớp.

"Sao nghĩa phụ biết nhiều như vậy?"

Tạ Lão Cửu khựng lại một nhịp rồi cười khà khà, gõ đũa vào thành bát.

"Ngươi tưởng ta chèo đò ba mươi năm là chèo không à? Trên đò đủ loại người, nào quan quân, nào thương nhân, nào người tu luyện. Bọn họ nói thì ta nghe, nghe nhiều thì nhớ."

Tạ Tri Hà gật đầu và không hỏi thêm. Thế nhưng hắn để ý thấy lúc nãy khi kể tên các cảnh giới, giọng nghĩa phụ không giống người thuật lại chuyện nghe được trên đò mà giống một người đang hồi tưởng hơn.

"Nghĩa phụ." Tạ Tri Hà đặt bát xuống. "Nếu con mãi mãi không lên nổi nhất diễm thì sao?"

Tạ Lão Cửu nhìn hắn rồi đặt chén rượu xuống.

"Ngươi có biết vì sao sông thở vào lúc hoàng hôn không?"

"Vì giờ đó linh khí dâng lên."

"Phải. Nhưng ngươi có để ý là có những hôm trời mưa thì linh khí không dâng đúng giờ không? Nó phải đợi mưa tạnh mới dâng, mà khi đã dâng thì dày gấp mấy lần ngày thường." Lão nhìn xuống mặt rượu sóng sánh. "Có những thứ không đến vào lúc mình muốn, nhưng không đến đúng lúc thì cũng không có nghĩa là sẽ không đến."

Tạ Tri Hà lặng im hồi lâu rồi cúi đầu tiếp tục ăn. Gió sông lùa qua khe vách làm ngọn đèn dầu chao đi một cái.

Đúng lúc ấy ngoài sân vang lên tiếng bước chân. Không phải một người mà ít nhất cũng năm sáu người, giày đế cứng nện lộp cộp lên cầu tre mỗi lúc một gần.

Đôi mắt lim dim của Tạ Lão Cửu lập tức mở lớn, sắc như mắt chim ưng. Ở trấn Liễu Độ này, kẻ đi giày đế cứng chỉ có người của Ôn gia mà thôi.

...

Ôn gia là hào tộc đứng đầu huyện Hà Khẩu. Họ nắm kho muối ở cửa sông, nắm ba phần tư số bến đò trong huyện và có tới mấy chục chiếc thuyền buôn xuôi ngược dọc Trường Hà. Gia chủ là bạn rượu của quận thủ, tam tiểu thư thì làm phu nhân huyện lệnh, còn trong phủ nghe nói có nuôi mấy vị khách khanh là Đăng Sư năm sáu bấc.

Một năm nay Ôn gia bắt đầu thu mua các bến đò nhỏ. Trấn Liễu Độ có ba bến thì hai bến đã về tay họ, chủ đò cũ giờ phải chèo thuê và mỗi chuyến nộp lại sáu phần. Chỉ còn mỗi bến đò của nhà họ Tạ.

Rầm!

Cánh cửa tre bị đẩy mạnh đập vào vách khiến ngọn đèn dầu chao đi suýt tắt.

Người bước vào đầu tiên là một trung niên mặc trường bào màu chàm, đầu đội khăn xếp, mặt trắng như phấn và ria mép tỉa gọn gàng. Theo sau hắn là năm gia đinh lực lưỡng, hông đeo đoản côn, trên vạt áo thêu chữ "Ôn" bằng chỉ vàng.

"Tạ lão gia." Trung niên áo chàm chắp tay cười một nụ cười rất chuẩn mực, chỉ có đôi mắt là không cười. "Lại quấy rầy bữa tối của lão rồi."

"Ôn quản sự." Tạ Lão Cửu vẫn ngồi yên không đứng dậy. "Lần trước ta trả lời rồi, không bán."

"Lần trước là ta tới mua." Ôn Phúc rút từ tay áo ra một tờ giấy gấp tư trải lên bàn ăn, một góc giấy đè lên đĩa cá kho. "Lần này là ta tới đòi."

Tạ Tri Hà liếc xuống. Chữ trên giấy viết ngay ngắn theo lối văn khế, cuối tờ có một dấu điểm chỉ màu đỏ đã ngả nâu và bên cạnh đề hai chữ "Tạ Cửu".

"Hai mươi năm trước, Tạ Cửu ở trấn Liễu Độ vay Ôn gia ba mươi lượng bạc để đóng đò và lấy bến đò làm vật thế chấp." Ôn Phúc đọc đều đều như thầy đồ giảng bài. "Lãi mỗi năm một phần mười, lãi nhập vào gốc, quá hạn không trả thì bến đò thuộc về Ôn gia." Hắn ngẩng lên mỉm cười. "Cả gốc lẫn lãi là hai trăm lẻ một lượng."

Tạ Tri Hà thấy tim mình như rơi xuống một cái giếng sâu không đáy. Chiếc đò nhà họ Tạ chạy quần quật cả năm thì may mắn lắm mới dư được ba bốn lượng.

Bàn tay cầm đũa của Tạ Lão Cửu khẽ run. Tạ Tri Hà nhìn ra được đó không phải vì sợ mà là cơn giận đã bị dồn nén đến cực hạn. Lão đặt đôi đũa xuống bàn rất nhẹ.

"Ôn Phúc. Năm xưa ngươi còn là thằng nhóc chạy việc vặt cho Ôn Hằng, ngồi đò của ta qua sông không biết bao nhiêu lần mà kể. Có lần ngươi say rượu rơi xuống nước giữa mùa lũ, chính ta là người nhảy xuống vớt ngươi lên."

Nụ cười trên mặt Ôn Phúc khựng lại trong một thoáng.

"Chuyện xưa rồi, lão gia nhớ dai thật."

"Ta nhớ dai lắm." Tạ Lão Cửu gật đầu. "Ta còn nhớ tờ khế năm ấy viết trên giấy dó Bắc Lĩnh có mép răng cưa, còn tờ ngươi đang cầm là giấy tre Nam Sơn cắt mép thẳng. Món tiền ấy ta đã trả từ mười lăm năm trước, chính tay Ôn Hằng xé tờ khế trước mặt ta."

"Ôn Hằng lão gia đã qua đời năm năm trước rồi." Ôn Phúc nhún vai. "Giấy thì vẫn còn đây. Còn tờ khế bị xé mà lão nói thì ở đâu, ai làm chứng?"

Mấy tên gia đinh khẽ cười khẩy, chỉ có một tên cao gầy đứng khoanh tay dựa cột ở sau cùng là không cười. Trên mu bàn tay phải của gã có hình xăm một ngọn lửa đỏ. Gã nhìn Tạ Lão Cửu bằng ánh mắt của thợ săn nhìn con mồi đã sa bẫy, và không khí quanh nắm tay gã hơi vặn vẹo như hơi nóng bốc lên từ mặt đường giữa trưa. Đó là một người tu luyện.

"Không cần ai làm chứng cả."

Một thanh âm bình thản vang lên bên cạnh bàn ăn khiến Ôn Phúc và năm tên gia đinh đồng loạt quay đầu lại.

"Tờ giấy này là mới viết." Tạ Tri Hà nói.

Lần đầu tiên Ôn Phúc nhìn thẳng vào thiếu niên kia, như thể đang nhìn một con gián vừa bò lên bàn.

"Đèn tang cũng biết nói à?"

Tạ Tri Hà không để tâm mà chỉ tay vào mép giấy.

"Giấy để hai mươi năm ở đất ven sông này thì mép tất phải ố vàng và có đốm mốc, đến mùa nồm hơi nước bốc lên thì giấy cất trong rương còn mọc cả nấm. Thế mà mép tờ này trắng tinh, chữ nghiêng ra ánh đèn vẫn còn bóng mực." Hắn cúi xuống ngửi. "Còn có mùi mực tùng yên mới mài nữa. Dấu điểm chỉ thì nâu đều từ mép tới giữa, giống như có kẻ trộn mực son với nước trà cho nó trông cũ đi."

Hắn đứng thẳng dậy.

"Ôn quản sự, lần sau làm giả thì nhớ hơ tờ giấy qua khói bếp vài hôm."

Một tên gia đinh không nhịn được bật cười thành tiếng rồi vội bịt miệng giả ho.

Khuôn mặt trắng như phấn của Ôn Phúc khẽ co giật, nhưng chỉ trong một hơi thở là nụ cười chuẩn mực đã quay trở lại. Hắn thong thả gấp tờ giấy cất vào tay áo.

"Tiểu tử này mắt tinh thật, đáng tiếc là mắt tinh cũng chẳng để làm gì. Giấy thật hay giả thì muốn biết cứ lên huyện nha mà kiện." Hắn khẽ cười. "Tạ lão gia có biết phu nhân của huyện lệnh đại nhân mang họ gì không?"

Không ai trả lời. Tạ Tri Hà cắn chặt răng. Hắn biết tờ giấy là giả, Ôn Phúc cũng biết và đám gia đinh cũng biết, nhưng ở huyện Hà Khẩu này Ôn gia nói thật thì là thật.

"Hạn đến cuối tháng." Ôn Phúc quay ra cửa. "Hôm nay mười hai, vậy là còn mười tám ngày. Hoặc giao bến, hoặc trả đủ hai trăm lẻ một lượng. Qua ngày ba mươi mà đò của lão còn chạy trên sông thì đừng trách ta không nể tình hàng xóm."

Đám gia đinh lục tục đi theo hắn. Tên cao gầy có hình xăm là kẻ đi cuối cùng, và lúc đi ngang qua Tạ Tri Hà thì gã khẽ nghiêng vai.

Bịch!

Cú huých tưởng như nhẹ hều mà Tạ Tri Hà lại thấy như bị một khúc gỗ lim nện vào ngực. Cả người hắn lảo đảo, lưng đập vào cột nhà, rồi từ chỗ bị huých lan ra một luồng nóng rát như có ai vừa ấn cục than hồng vào da thịt.

"Đèn tang." Gã cười nhạt, giọng khàn như cát cọ vào đá. "Mắt tinh thì nhớ nhìn đường mà đi."

Tạ Tri Hà siết chặt nắm tay đến mức móng tay cắm vào lòng bàn tay. Ngay lúc ấy, sâu trong lồng ngực hắn, ngọn lửa đen bé xíu bỗng co lại. Nó không tắt mà co lại thành một chấm nhỏ đặc quánh, lạnh buốt như hòn đá dưới đáy sông mùa đông.

Suốt bốn năm nay ngọn lửa ấy chưa từng có phản ứng gì. Vậy mà giờ phút này, khi gã xăm tay đứng cách hắn chưa đầy một sải tay và luồng nóng rát vẫn còn âm ỉ trên ngực, hắn có cảm giác ngọn lửa đen đang nhìn. Nó đang nhìn chằm chằm vào nắm tay của gã.

"Tri Hà."

Giọng Tạ Lão Cửu vang lên sau lưng hắn, không lớn nhưng nặng như đá.

"Ngồi xuống ăn cơm."

Chỉ một câu ấy thôi mà cảm giác quỷ dị trong ngực hắn lập tức tan biến. Gã xăm tay nhìn hắn thêm một lúc rồi cười khẩy bước ra ngoài. Tiếng giày đế cứng lộp cộp xa dần trên cầu tre rồi im bặt.

...

Cá kho đã nguội, nước kho đông lại thành một lớp mỡ trắng, và ngay chỗ tờ giấy nợ vừa đè lên vẫn còn in một vệt nâu.

Tạ Lão Cửu gắp miếng cá ngon nhất bỏ vào bát Tạ Tri Hà rồi rót rượu uống cạn. Xong lão lại rót, lại uống.

"Nghĩa phụ uống ít thôi."

"Ta biết."

"Còn mười tám ngày nữa."

"Ta biết đếm."

"Hai trăm lẻ một lượng..."

"Ta nói là ta biết đếm!"

Chén rượu đập xuống bàn đánh cạch một tiếng, rượu sóng sánh tràn cả ra ngoài.

Cả hai cùng im lặng. Hồi lâu sau Tạ Lão Cửu mới thở dài một hơi rất dài.

"Ăn đi. Chuyện của người lớn để ta lo."

Tạ Tri Hà cúi đầu ăn. Hắn biết nghĩa phụ chẳng có cách nào lo được, bởi toàn bộ gia sản nhà họ Tạ chỉ có một chiếc đò cũ, một căn nhà sàn dột nát và cái ống tre đựng chưa tới một lượng bạc lẻ. Kiện thì vô ích, còn bỏ trốn thì một lão già chân thọt biết sống bằng gì. Mà nếu giao bến thì chiếc đò ba mươi năm của nghĩa phụ sẽ thành của kẻ khác, hai cha con lại phải chèo thuê và mỗi chuyến nộp lại sáu phần.

Hắn nhai miếng cá mà không thấy mùi vị gì. Giá như hắn là một người tu luyện thật sự, giá như ngọn lửa đen này chịu cháy lên, thì ít nhất lúc nãy bị huých vai hắn đã không phải lùi lại.

Ăn xong hắn thu dọn bát đũa vào rổ tre để xách ra bến rửa. Ra đến cửa thì hắn quay đầu nhìn lại. Tạ Lão Cửu vẫn ngồi bên bếp cầm chén rượu, mắt dán vào đống lửa đang tàn, cái bóng gầy gò của lão in trên vách còng hẳn xuống.

Lần đầu tiên Tạ Tri Hà thấy nghĩa phụ già đến như vậy.