Xác trôi
Đêm trên Trường Hà rất đẹp, và đó là thứ mười sáu năm nay Tạ Tri Hà chưa từng thấy chán.
Trăng non mảnh như móng tay treo trên ngọn trúc bên kia sông. Mặt nước đen như mực, chỉ có ánh trăng lấp lánh trên từng gợn sóng vỡ ra rồi lại liền lại. Nước vỗ vào chân cầu tre óc ách đều đặn như nhịp thở của một con cự thú đang ngủ say. Trên đầu sao giăng kín trời. Nghĩa phụ bảo mỗi ngôi sao là một ngọn đèn, nhưng Tạ Tri Hà chưa bao giờ biết lão nói thật hay nói đùa.
Phía thượng du xa tít tắp có những đốm sáng nhỏ nằm rải rác dọc bờ sông. Đó là đèn của các Đăng Miếu. Mỗi làng ven Trường Hà đều có một tòa Đăng Miếu, và tòa nào cũng có một ngọn đèn đồng cháy suốt ngày đêm quanh năm suốt tháng. Người ta nói đèn Đăng Miếu là mắt của Đăng Mẫu dõi xuống dòng sông để che chở thuyền bè và giữ cho nước không dâng lên nuốt làng.
Thuở nhỏ Tạ Tri Hà rất thích ngồi đếm những ngọn đèn ấy. Từ bến nhà hắn nhìn lên thượng du, đêm nào trời quang thì đếm được mười chín ngọn. Ngọn gần nhất và cũng sáng nhất là đèn Đăng Miếu trấn Liễu Độ ngay trên gò đất cuối trấn. Ngọn xa nhất chỉ là một đốm sáng mờ nhạt, nhỏ đến mức phải nheo mắt mới thấy, mà nghĩa phụ bảo đó là đèn của làng Thạch Ổ cách đây hơn trăm dặm đường sông.
Đêm nay theo thói quen hắn lại đếm. Đếm đến mười tám thì hắn khựng lại rồi đếm lại từ đầu, nhưng vẫn chỉ có mười tám. Đốm sáng xa nhất của làng Thạch Ổ không thấy đâu nữa.
Tạ Tri Hà nheo mắt nhìn hồi lâu. Phía chân trời thượng du tối om mà không một gợn mây. Hắn nghĩ có lẽ sương đêm dày quá nên che mất, hoặc có lẽ đèn bên ấy đang thay dầu, rồi không nghĩ thêm nữa mà cúi xuống rửa bát tiếp. Mãi rất lâu về sau hắn mới biết đêm ấy chẳng có sương, cũng chẳng có ai thay dầu cả.
Hắn ngồi xổm trên bậc đá cuối cùng của bến mà nhúng bát xuống nước. Nước sông cuối thu lạnh thấu xương. Hắn chậm rãi kỳ cọ từng chiếc bát từng đôi đũa, còn đầu óc thì để tận đâu đâu.
Mười tám ngày với hai trăm lẻ một lượng.
Hắn nhẩm tính trong đầu. Nếu ngày nào cũng chèo đủ mười lăm chuyến không nghỉ thì mười tám ngày được chừng hai lượng bạc. Bán chiếc đò may ra được năm sáu lượng, còn căn nhà sàn thì chẳng ai mua. Gom hết lại cũng không đủ một phần mười.
Đi vay thì ai cho đèn tang vay hai trăm lượng? Lên huyện kiện thì huyện lệnh lại là con rể Ôn gia. Còn muốn tìm người có quyền thế hơn Ôn gia để nhờ cậy thì ở huyện Hà Khẩu này, ngoài huyện lệnh ra chỉ có...
Tay hắn bỗng khựng lại. Chỉ có Thủy Đăng Viện.
Phân viện Thủy Đăng ở Hà Khẩu là chi nhánh của học viện lớn nhất nước Thương Lan. Nó không thuộc quyền huyện cũng chẳng thuộc quyền quận mà chỉ nghe lệnh tổng viện ở kinh đô. Hồ Đại Sơn từng viết trong thư rằng ngay cả quận thủ gặp viện chủ tổng viện cũng phải chắp tay hành lễ trước. Nhưng Thủy Đăng Viện thì có liên quan gì đến một kẻ mang đèn tang? Tạ Tri Hà cười khổ lắc đầu rồi lại rửa bát.
Hắn xòe bàn tay trái ra, và ngọn lửa đen nhỏ như hạt đậu lại hiện lên leo lét giữa ánh trăng.
"Ngươi rốt cuộc là thứ gì?" Hắn hỏi nó như hỏi một cố nhân.
Ngọn lửa không trả lời mà chỉ chập chờn như mọi khi. Nhưng hắn lại thấy hình như không hẳn là như mọi khi. Tạ Tri Hà khẽ nhíu mày nhớ lại lúc nãy ở trong nhà. Khi gã xăm tay đứng sát bên cạnh, ngọn lửa này đã co lại thành một điểm lạnh buốt, và cảm giác ấy rất lạ. Nó không giống sợ hãi mà cũng chẳng giống phẫn nộ, ngược lại giống con mèo nhà hàng xóm mỗi khi ngửi thấy mùi cá nướng hơn.
Hắn bật cười vì thấy mình nghĩ linh tinh, một ngọn lửa thì làm sao biết thèm. Hắn nắm tay lại rồi cầm chiếc bát cuối cùng nhúng xuống nước, và đúng lúc ấy thì hắn ngừng tay.
Có thứ gì đó đang trôi trên sông.
...
Cách bến chừng ba mươi trượng, ở giữa dòng có một vệt đen dài đang trôi xuôi từ thượng du về.
Ban đầu Tạ Tri Hà tưởng đó là khúc gỗ. Mùa thu nước lớn nên gỗ mục trên núi trôi về là chuyện thường, mấy hôm trước hắn còn vớt được một khúc gỗ lim to bằng bắp đùi bán được mười đồng. Thế nhưng khúc gỗ này trôi không đúng.
Gỗ trôi trên sông thì phải xoay vòng theo xoáy nước, lúc dạt vào bờ lúc ra giữa dòng, gặp bãi đá thì vướng lại. Đó là cách nước sông chảy và hắn đã nhìn nó suốt mười sáu năm. Còn vệt đen kia lại trôi thẳng tắp. Nó chậm rãi xuôi theo đúng giữa dòng chảy mà không xoay cũng không lệch, như thể có một bàn tay vô hình đang đẩy nó đi.
Rồi hắn thấy nó có tay.
Tạ Tri Hà bật dậy làm chiếc bát rơi xuống bậc đá vỡ đôi, một nửa lăn xuống nước chìm mất.
Đó là một người. Người ấy nằm ngửa trên mặt sông với hai tay dang rộng, tấm trường bào màu xám ướt sũng phồng lên như đôi cánh chim gãy. Mái tóc đen xõa tung trên mặt nước, còn khuôn mặt thì trắng bệch như giấy dưới ánh trăng.
Trên ngực người đó, ngay chỗ trái tim, có một vệt sáng rất mờ màu xám như tro bếp, chập chờn như đốm than sắp tàn. Từ vệt sáng ấy có một làn khói mảnh như tơ đang chầm chậm bốc lên và uốn lượn trong gió đêm.
Tạ Tri Hà nhìn chằm chằm làn khói ấy, và rồi hắn cảm thấy ngọn lửa đen nhỏ như hạt đậu sâu trong hồn mình bỗng giật mạnh một cái. Nó giật mạnh đến mức hắn phải đưa tay ôm ngực mà thở hắt ra.
Lần đầu tiên sau bốn năm, ngọn lửa ấy không còn leo lét nữa. Nó đang giãy giụa chồm lên như con chó bị xích chặt bỗng ngửi thấy mùi thịt. Trong khoảnh khắc ấy Tạ Tri Hà hiểu ra cảm giác kỳ lạ lúc nãy là gì.
Nó đang đói.
"Nghĩa phụ!" Hắn quay đầu quát về phía căn nhà sàn. "Có người trôi sông!"
...
Tiếng quát vừa dứt thì cửa nhà sàn đã bật mở và Tạ Lão Cửu lao ra.
Phải, chính là lao ra. Lão già thọt chân sáu mươi mấy tuổi vớ lấy cây sào tre dài dựng ở hiên rồi khập khiễng lao xuống bậc đá nhanh đến mức khó ai tưởng tượng nổi. Cái chân thọt kéo lê trên mặt đá, vậy mà lão không hề lảo đảo lấy một bước.
"Đâu?"
"Ở kia!"
Tạ Lão Cửu nheo mắt nhìn ra giữa dòng, và chỉ một cái liếc là sắc mặt lão đã thay đổi.
"Lên đò!"
Hai cha con nhảy lên đò. Tạ Tri Hà giật dây buộc khỏi cọc rồi chống mái chèo vào bậc đá đẩy mạnh, chiếc đò lướt ra khỏi bến rẽ nước lao đi.
Có một điều rất lạ là cái xác vốn trôi rất đều, nhưng đến ngang bến đò nhà họ Tạ thì bỗng chậm hẳn lại. Như thể dòng nước ở đúng chỗ này đột nhiên lười biếng, hay như thể chính nó muốn dừng lại ở đây chờ ai đó ra vớt. Tạ Tri Hà không có thời gian để nghĩ về điều đó.
Cái xác đã trôi qua bến chừng hai mươi trượng. Dòng nước ban đêm chảy xiết hơn ban ngày, mặt sông đen kịt, chỉ còn nhìn thấy vệt sáng xám trên ngực người kia lập lòe trong bóng tối như một ngọn đèn lồng nhỏ.
"Bên trái có bãi đá ngầm." Tạ Lão Cửu ngồi ở mũi đò, giọng trầm ổn.
"Con biết."
"Qua bãi đá là có xoáy."
"Con biết rồi."
Mũi đò lách qua bãi đá ngầm, mạn đò sượt qua một tảng đá nhô lên chỉ cách chừng một gang tay. Tạ Tri Hà nghiêng mái chèo cho đò xoay ngang để tránh xoáy nước đang cuộn tròn phía trước, rồi vòng ra đón đầu cái xác.
Tạ Lão Cửu thò sào xuống nước móc vào thắt lưng người kia kéo về phía mạn đò. Động tác của lão gọn gàng đến lạ, tay trái đỡ tay phải đẩy, mũi sào hơi chúc xuống và thân người hạ thấp, trông không giống người chèo đò cầm sào mà giống người cầm trường thương hơn. Tạ Tri Hà buông chèo cúi xuống túm lấy vai áo.
Cái xác ngấm nước nặng như bao gạo. Hai cha con phải dồn hết sức đến mức chiếc đò nghiêng hẳn về một bên và nước tràn vào mạn thì mới kéo được người đó lên sàn. Cái xác nằm ngửa trên ván đò, nước sông từ quần áo chảy ra lênh láng.
Tạ Lão Cửu quỳ xuống đặt hai ngón tay lên cổ người kia. Lão chờ một lúc lâu rồi lắc đầu.
"Chết rồi."
"Chết bao lâu rồi ạ?"
"Một hai ngày." Lão lật bàn tay người chết lên nhìn những ngón tay trắng bệch nhăn nheo vì ngâm nước. "Trôi từ thượng du xuống, xa lắm."
Tạ Tri Hà ngồi xổm bên cạnh nhìn người chết. Đó là một nam tử chừng ba mươi tuổi, mặt vuông mày rậm và sống mũi cao. Trên má trái có một vết sẹo cũ dài chừng hai đốt ngón tay kéo từ gò má xuống gần khóe miệng. Đôi mắt y nhắm nghiền nhưng hai hàng lông mày vẫn nhíu chặt, như thể đến lúc chết vẫn còn đang phẫn nộ.
Trường bào xám của y may bằng vải tốt với đường kim mũi chỉ rất tinh xảo. Cổ áo và tay áo thêu những đường sóng nước bằng chỉ bạc lấp lánh như vảy cá dưới ánh trăng. Thắt lưng bằng da thì trống trơn, ở hông trái có hai cái khoen đồng nhưng không treo thứ gì, như thể vật đeo ở đó đã bị giật mất.
Ngực áo y bị xé toạc, và ngay trên tim là một vết thương hình bàn tay. Năm ngón tay xòe rộng in sâu vào da thịt, cháy sém đen kịt như bị dí sắt nung, xung quanh vết cháy thì da thịt nứt ra thành những đường vân li ti như mặt ruộng khô hạn. Làn khói xám mảnh như tơ vẫn đang lặng lẽ bốc lên từ vết thương ấy.
"Người tu luyện." Tạ Lão Cửu nói khẽ.
Giọng lão đã thay đổi hẳn. Nó không còn là giọng cộc cằn của lão lái đò mà trầm xuống nặng nề như giọng của một người từng chứng kiến rất nhiều chuyện.
"Sao nghĩa phụ biết?"
"Áo thêu sóng bạc là quan phục của Tuần Đăng Ty." Lão chỉ vào vết thương. "Còn cái này là y bị người ta đánh vỡ hồn đăng mà chết."
"Đánh vỡ hồn đăng?"
Tạ Lão Cửu trầm mặc một lúc như đang cân nhắc nên nói bao nhiêu.
"Người tu luyện ai cũng có một ngọn đèn trong hồn. Khi chết đi thì dù chết thế nào ngọn đèn ấy cũng vỡ. Đèn vỡ thì lửa tắt, mà lửa tắt thì còn lại tro, gọi là tro đèn." Lão chỉ vào làn khói xám. "Chính là thứ này đây."
Tạ Tri Hà nhìn làn khói, nó mảnh đến mức nếu không có ánh trăng thì chẳng ai nhìn thấy được.
"Bình thường người tu luyện chết đi thì tro đèn sẽ theo khói bay lên, vài canh giờ là tan hết để trả về cho trời đất." Tạ Lão Cửu nói tiếp. "Còn kẻ bị đánh vỡ đèn mà chết thì tro còn tan nhanh hơn, có khi chưa hết một nén hương."
"Nhưng người này chết một hai ngày rồi mà..."
"Mà tro vẫn còn." Tạ Lão Cửu gật đầu. "Nghĩa là lúc còn sống ngọn đèn trong hồn y phải rất lớn, lớn đến mức vỡ rồi mà vẫn âm ỉ cháy suốt hai ngày chưa tàn. Ít nhất cũng phải là Đăng Sư bảy tám bấc."
Lão cầm bàn tay phải của người chết lên lật qua lật lại dưới ánh trăng. Chỗ hổ khẩu có một lớp chai dày cộm, lòng bàn tay sần sùi.
"Tay cầm đao, cầm hơn hai mươi năm rồi." Lão lẩm bẩm rồi nhìn quanh mặt sông tối om. "Tuần Đăng Sứ ra ngoài làm việc chưa bao giờ đi một mình, ít nhất cũng hai người một tổ. Vậy người kia đâu?"
Không ai trả lời, chỉ có tiếng nước vỗ mạn đò. Lão nhìn chằm chằm vào vết bàn tay cháy đen.
"Còn kẻ đánh vỡ được ngọn đèn lớn như vậy chỉ bằng một chưởng..."
Lão không nói hết câu, nhưng Tạ Tri Hà hiểu rằng kẻ đó còn đáng sợ hơn rất nhiều.
Không hiểu vì sao đúng lúc này giọng kể trầm trầm của Tôn bà bà lúc chiều bỗng vang lên trong đầu hắn: "Ăn chưa đủ, nó còn ăn cả hồn người chết..."
Tạ Tri Hà rùng mình. Hắn cúi nhìn bàn tay mình rồi lại nhìn làn khói xám đang bốc lên từ ngực người chết, tự nhủ rằng không thể nào, đó chỉ là chuyện kể cho trẻ con thôi.
Gió sông thổi qua làm chiếc đò khẽ chòng chành. Trăng non lặn sau một đám mây nên mặt sông tối sầm lại, chỉ còn vệt sáng xám trên ngực người chết là vẫn chập chờn. Tạ Lão Cửu đang nói gì đó, hình như là bàn chuyện có nên báo cho trấn trưởng hay đưa xác lên Đăng Miếu, nhưng Tạ Tri Hà đã không còn nghe rõ nữa.
Ánh mắt hắn dán chặt vào làn khói xám. Trong hồn hắn ngọn lửa đen đang giật từng cơn, cơn sau mạnh hơn cơn trước. Lúc trên bến nhìn từ xa, nó chỉ như con chó ngửi thấy mùi thịt, còn bây giờ khi miếng thịt nằm ngay trước mặt thì nó như phát cuồng.
Một cảm giác chưa từng có dâng lên từ đáy lồng ngực hắn. Đó không phải đói bụng hay khát nước mà là một sự khao khát sâu hơn thế rất nhiều. Như thể trong người hắn có một khoảng trống mà chính hắn chưa từng biết đến, và khoảng trống ấy đã chờ đợi đúng thứ này suốt mười sáu năm.
Lấp nó đi. Lấp đầy nó đi.
Tạ Tri Hà không biết từ lúc nào bàn tay phải của mình đã giơ lên và chầm chậm vươn về phía ngực người chết.
"Tri Hà?" Tạ Lão Cửu ngẩng lên giật mình. "Ngươi làm gì vậy?"
Bàn tay vẫn vươn tới, chỉ còn cách ba tấc rồi hai tấc rồi một tấc.
Hắn thấy rất rõ làn khói xám vốn bốc thẳng lên trời giờ đã khẽ nghiêng về phía đầu ngón tay mình, giống như ngọn cỏ nghiêng theo gió hay dòng nước tìm về chỗ trũng. Như thể nó cũng đang chờ đợi hắn.
"Tri Hà! Đừng chạm vào người chết..."