Chiếc lược sừng
Gánh thịt nặng trĩu trên vai, đòn gánh tre uốn cong thành hình cánh cung, mỗi bước chân lại kêu kẽo kẹt như tiếng võng đưa.
Ba cha con nhà họ Đào ra khỏi làng khi trời còn tối đất. Ông Đào đi trước, xách đèn bão, gánh nhẹ nhất: hai thúng đựng thủ lợn và chân giò. Anh Mạnh đi giữa, gánh hai nửa con lợn thứ nhất. Chính đi sau cùng, gánh nửa còn lại cùng mấy tảng thịt mông.
Chị Cả đã cãi một trận ra trò từ lúc gà gáy, nhất quyết không cho Chính gánh. Nhưng lần này anh không nhường. "Chị để em đi," anh nói, "em đi chậm. Em muốn ra chợ một lần." Ông Đào nhìn con, rồi bảo chị Cả chia bớt gánh cho nhẹ. Thế là xong.
Con đường ra chợ huyện men theo bờ đê sông Lam, đất còn ướt sau mấy trận mưa, trơn như bôi mỡ. Hơi nước từ mặt sông bốc lên thành một lớp sương mỏng, lơ lửng ngang thắt lưng người. Đi trong sương, ba cha con như ba cái bóng lội qua một dòng sông khác, trắng và lặng.
Chính bước chậm, thỉnh thoảng đổi vai. Vết sẹo ở bụng hơi căng lên mỗi lần anh nhấc gánh, nhưng không đau. Anh thấy người mình nhẹ hơn mọi khi, và anh biết vì sao, dù anh không muốn nghĩ thẳng vào đấy.
Sáng nay, lúc anh ra khỏi buồng, vợ anh đã dậy, đang ngồi trước bếp nấu nồi khoai lang cho ba cha con mang theo ăn đường. Nàng gói khoai vào lá chuối, buộc lạt, đưa cho anh, rồi dặn bằng cái giọng nhỏ nhỏ: "Đi đường trơn, anh đi chậm. Đổi vai luôn, đừng để một bên." Rồi nàng quay vào ngay, như sợ anh nhìn thấy mặt mình.
Anh chưa từng được ai dặn đi đường trơn.
⁂
Chợ huyện họp ở bãi đất rộng sát bến sông, nơi hai con đường cái gặp nhau. Khi ba cha con đến nơi, mặt trời đã lên khỏi rặng tre bên kia sông, và chợ đã đông nghịt.
Chính đứng lại đầu chợ một lúc, để mắt quen dần với cái ồn ào. Mấy năm trên đồn, anh chỉ quen với tiếng gió, tiếng trống canh và tiếng người lính gọi nhau. Còn ở đây, cái gì cũng kêu. Tiếng gà vịt quang quác trong lồng. Tiếng lợn con eng éc trong rọ. Tiếng người mặc cả, tiếng người cãi nhau, tiếng chiêng của gánh xiếc khỉ đang dựng lều ở góc chợ.
Nhà ông phó lý ở ngay phố chợ. Giao thịt xong, đếm tiền xong, ông Đào cất tiền vào ruột tượng, buộc chặt quanh bụng, rồi nói với hai con: "Thầy đi mua ít muối với nước mắm. Chúng mày đi đâu thì đi, giờ Ngọ ra bến đợi."
Anh Mạnh rủ em đi một vòng. Hai anh em gánh đôi quang gánh không, đi chậm qua các dãy hàng.
Hàng vải ở ngay lối vào, những súc vải nâu, vải chàm, vải trắng chất cao như tường. Một bà hàng béo trùng trục ngồi giữa đống vải, tay phe phẩy cái quạt mo dù trời lạnh, miệng mời chào không ngớt. Chính nhìn một súc vải nâu, nghĩ đến bộ áo chị Cả may cho vợ anh, tay áo dài quá cổ tay. Rồi anh đi tiếp.
Hàng thuốc bắc thì tối và hắc. Một ông lang già đeo kính lão gọng đồng, ngồi giữa những cái ngăn kéo nhỏ chi chít, cân thuốc bằng cái cân tiểu ly mảnh như sợi tóc. Mùi cam thảo, quế chi, đương quy quyện lại thành một thứ mùi đặc quánh. Chính nhớ những bát thuốc đắng chị Cả bắt anh uống suốt tháng qua, và rùng mình.
Gần đầu chợ có một quán thịt quay, chiếm hẳn hai gian phố, trước cửa treo lủng lẳng mấy con vịt quay và một tảng thịt lợn da giòn vàng óng. Chủ quán là một lão béo núc, mặt bóng nhẫy như chính miếng thịt quay của lão, ngồi sau quầy, ngón tay đeo nhẫn vàng gõ lách cách lên bàn tính. Có người gọi lão là "ông Lý Toàn". Lão liếc anh Mạnh một cái khi hai anh em đi qua, cái liếc của người buôn nhìn người buôn, rồi quay đi.
"Lão ấy mua thịt nhà mình mấy lần," anh Mạnh nói, giọng không vui không buồn. "Trả giá kỹ lắm."
Chính gật đầu, rồi quên ngay.
⁂
Hàng nữ trang nằm ở góc chợ, dưới một gốc đa cổ thụ, chỉ có ba bốn sạp nhỏ trải chiếu. Ở đây, đám con gái túm năm tụm ba, đứa ướm thử đôi hoa tai, đứa cầm cái gương đồng soi đi soi lại, cười rúc rích.
Chính không định dừng. Anh chỉ định đi ngang qua.
Nhưng anh đứng lại.
Sạp thứ ba là của một ông già gầy, râu tóc bạc phơ, ngồi xếp bằng sau một tấm vải điều trải đầy những món nhỏ. Có vòng bạc chạm hoa, sáng loáng dưới nắng. Có trâm đồng hình con phượng, có xà tích bạc với những chiếc ống vôi nhỏ xíu treo lủng lẳng. Có mấy đôi hoa tai hình nụ sen. Và ở góc tấm vải, xếp thành một hàng, là những chiếc lược.
Anh Mạnh đã đi tiếp được mấy bước, quay lại thấy em đứng yên, cũng dừng. Anh không gọi. Anh chỉ đặt gánh xuống, ngồi lên đòn gánh, rút điếu cày ra nhồi thuốc.
Chính ngồi xổm xuống trước sạp.
Ông già ngẩng lên, đôi mắt đục nhưng tinh. "Mua cho vợ hay cho người thương, anh lính?"
Chính không hỏi vì sao ông biết mình là lính. Có lẽ cái đầu cắt ngắn, có lẽ cái dáng ngồi. Anh chỉ đáp: "Cho vợ."
"Thế thì xem cái vòng này. Bạc thật, nặng tay. Đàn bà con gái đeo vào thì cả làng phải nhìn."
Chính cầm lên. Vòng bạc lạnh, nặng, chạm hình cành mai. Anh nghĩ đến cổ tay vợ anh, gầy như cái que, các đốt xương lồi ra. Đeo cái vòng này vào thì chắc nó tuột mất. Mà đeo đi đâu? Đeo xuống bếp, đeo ra vườn? Đeo về nhà họ Lê cho mụ Lụa nhìn thấy, rồi mụ nghĩ cách mà lấy?
Anh đặt cái vòng xuống.
Ông già đưa cái trâm đồng. Con phượng xòe đuôi, đẹp thật. Nhưng anh nhớ tóc vợ anh. Đêm qua, khi nàng ngồi bên chậu than, gỡ khăn ra, anh đã thấy: tóc nàng dài nhưng rối bết, đuôi tóc xơ và gãy, chỗ dày chỗ mỏng như bó rạ bị chuột cắn. Mười sáu năm không ai chải cho, không có dầu bưởi, không có bồ kết. Nàng gỡ tóc bằng mấy ngón tay, giật từng mớ, nhăn mặt mà không kêu.
Cắm một cái trâm vào mớ tóc ấy thì có ích gì.
Anh nhìn xuống hàng lược.
Có lược gỗ thị, lược gỗ mít, lược tre. Và có một chiếc lược sừng, nhỏ hơn những chiếc khác, chỉ bằng nửa bàn tay anh. Sừng trâu được mài nhẵn bóng, màu đen ánh nâu như mật ong để lâu ngày. Răng lược đều tăm tắp, thưa vừa phải, đầu răng được mài tròn. Trên sống lược có khắc một con cá chép đang uốn mình nhảy qua một ngọn sóng, vảy cá chạm từng nét nhỏ như sợi chỉ, đuôi cá vểnh lên, đầu ngẩng cao.
Chính cầm chiếc lược lên. Nó nhẹ hều, ấm trong tay, không lạnh như bạc.
Anh thử chải lên mu bàn tay mình. Răng lược trơn, không cào xước da. Răng thưa thế này, chải tóc rối sẽ không giật. Sừng thì không tích điện, không làm tóc xơ thêm. Anh không biết những chữ ấy, nhưng anh biết, như người đi săn biết cái nỏ nào bắn trúng.
"Cái này bao nhiêu, cụ?"
"Bốn mươi đồng."
Chính lặng đi. Anh đưa tay sờ vào cái túi nhỏ giắt ở lưng quần. Tiền anh có là tiền dành dụm từ mấy năm lính, sau khi đã đưa gần hết cho chị Cả lo đám cưới. Anh không cần đếm cũng biết còn bao nhiêu: bốn mươi tư đồng.
"Rẻ hơn được không cụ?"
Ông già lắc đầu, vuốt râu. "Sừng trâu già, thợ làng Thụy Ứng chạm, mất nửa tháng một cái. Con cá chép vượt vũ môn. Anh mua cho vợ thì cá hóa rồng, nhà sẽ khá lên. Bốn mươi là tôi đã bớt cho anh lính rồi."
Chính không mặc cả nữa. Anh vốn không biết mặc cả. Anh cởi túi tiền, đếm ra từng đồng, đặt lên tấm vải điều. Bốn mươi đồng xếp thành một xâu ngắn. Trong túi còn lại bốn đồng, va vào nhau lạch cạch, nghe nghèo nàn.
Ông già lấy một mảnh giấy bản, gói chiếc lược lại cẩn thận, đưa cho anh bằng hai tay.
Chính cầm gói giấy, đứng lên. Anh không biết đặt nó vào đâu cho chắc. Cuối cùng anh nhét vào trong ngực áo, sát da, chỗ không thể rơi.
Khi anh quay lại, anh Mạnh vẫn ngồi trên đòn gánh, điếu cày đã hút xong, đang gõ gõ cái nõ vào gót chân. Anh Mạnh nhìn em, nhìn cái chỗ cộm lên trên ngực áo em, rồi nhìn sang ông già bán nữ trang.
Anh không hỏi. Anh đứng dậy, sốc lại đôi quang gánh, rồi trước khi bước đi, anh thò tay vào túi mình, móc ra một nắm tiền đồng, dúi vào tay Chính, không đếm.
"Anh…"
"Mua cái gì ăn đường." Anh Mạnh nói, đã quay lưng đi. "Đói thì gánh không nổi."
Chính nhìn xuống bàn tay mình. Mười hai đồng. Anh nắm chặt lại, đi theo anh trai. Lưng anh Mạnh to như cánh cửa, bước đều như người đã đi con đường này hàng nghìn lần, không ngoái lại.
Chính biết, anh Mạnh sẽ không bao giờ nhắc đến chuyện này, với ai, kể cả với chị Cả.
⁂
Trên đường về, ba cha con ngồi nghỉ ở cái quán nước dưới gốc gạo đầu đê. Ông Đào uống chè, anh Mạnh ăn bánh đa. Chính bóc gói khoai lang vợ anh gói sáng nay, khoai đã nguội nhưng vẫn ngọt và bở.
Anh vừa ăn vừa đặt tay lên ngực áo, như người ta đặt tay lên một vết thương để chắc rằng nó còn đó. Qua lớp vải, anh cảm thấy rõ hình con cá chép.
Anh nghĩ đến đêm qua, đêm thứ hai, nàng đã nằm trên giường, còn anh lại trải chiếu dưới đất. Nàng không nói gì, nhưng trước khi tắt đèn, nàng đã đẩy chậu than lại gần chỗ anh nằm hơn một chút. Anh nghĩ đến lúc anh đưa chiếc lược này cho nàng. Nàng sẽ nói gì. Có khi nàng chê đắt. Có khi nàng bảo anh dại, tiêu bốn mươi đồng vào cái thứ không ăn được. Anh nghĩ đến chuyện tự tay mình chải tóc cho nàng, rồi đỏ mặt, may mà trời gió, không ai thấy.
Anh không biết rằng ở nhà, lúc ấy, vợ anh đang quét dọn gian buồng phía Đông, và vừa lôi từ gầm giường ra một cái tay nải vải chàm cũ, bên trong gói chiếc áo lính mà anh chưa bao giờ muốn ai nhìn thấy.