Trao quà
Than trong chậu nổ lách tách. Một con thạch sùng trên xà chặc lưỡi ba tiếng, như thể nó cũng đang chờ.
"Em nói trước đi," Chính bảo.
"Anh nói trước."
"Em nói trước." Giọng anh nhỏ lại. "Anh… chưa nghĩ ra nói thế nào."
Nguyệt cắn môi. Nàng đứng dậy, đi đến bên giường, lật gối lên. Chiếc áo lính gấp làm tư nằm đó, vá vai bằng mảnh chàm mới hơn, nhìn qua đã thấy hai màu xanh lệch nhau. Nàng cầm nó lên bằng hai tay, như người ta bưng một mâm cơm nóng, rồi quay lại, đặt lên đầu gối anh.
"Em thấy nó dưới gầm giường. Vai rách, em vá lại. Vá xấu lắm."
Chính nhìn xuống chiếc áo. Anh không nói gì. Ngón tay anh lần theo đường vá trên vai, chỗ mũi chỉ mau, chỗ thưa, chỗ còn sót một nút chỉ to như hạt đậu. Rồi tay anh trượt xuống vạt trước, dừng lại ở mảng máu cũ không phai. Anh để yên bàn tay ở đó một lúc lâu.
"Còn chỗ này nữa." Nàng cúi xuống, lật vạt trái lên, chỉ vào mặt trong. "Em khâu thêm một cái túi. Ở đây. Để anh đựng… cái gì quý."
Cái túi vải chàm nhỏ, ba cạnh khâu mũi đột, mũi đầu đều tăm tắp vì có tay chị Cả, mấy mũi sau thì xiêu vẹo như hàng rào tre sau bão. Nó nằm đúng chỗ ngực trái, chỗ khi anh mặc áo vào thì nằm ngay trên tim.
Chính lặng đi.
Nguyệt đứng đó chờ. Nàng thấy yết hầu anh trồi lên rồi sụt xuống. Thấy anh cúi đầu thấp hơn, thấp hơn nữa, cho đến khi nàng không còn nhìn thấy mặt anh, chỉ thấy cái đỉnh đầu tóc lính cắt ngắn mới mọc lởm chởm.
"Năm năm," anh nói, giọng khàn như vừa nuốt phải khói, "anh mặc cái áo này. Không ai vá cho anh một mũi."
Anh không nói thêm. Anh gấp chiếc áo lại, cẩn thận hơn cả lúc nàng gấp, đặt lên cái rương gỗ bên cạnh. Rồi anh đưa tay vào ngực áo đang mặc, rút ra một gói nhỏ bọc bằng mảnh khăn nâu.
"Đến lượt anh."
Nàng mở mảnh khăn. Bên trong là một chiếc lược.
Lược sừng trâu, nhỏ vừa lòng bàn tay, màu nâu sẫm có vân đen như vân gỗ mun. Răng lược mảnh, đều, được mài nhẵn đến mức đưa lên chạm vào ngón tay chỉ thấy mát. Trên sống lược người thợ khắc một con cá chép đang nhảy lên khỏi một ngọn sóng, đuôi cong vút, vảy chỉ là mấy nét chấm nhỏ nhưng nhìn kỹ thì như đang lấp lánh.
Nguyệt cầm chiếc lược, không nói được câu nào.
"Anh thấy tóc em rối," Chính nói, mắt nhìn đi chỗ khác. "Hôm cưới, chị Cả chải cho em, gãy mất một nắm. Anh đứng ngoài nghe em kêu."
Tóc của cô bé Nguyệt. Tóc khô như rơm, ngả màu râu ngô vì đói lâu ngày, đuôi chẻ tưa, mỗi lần chải là rụng cả nắm. Người học dinh dưỡng thì biết: thiếu đạm lâu thì tóc là thứ cơ thể bỏ trước tiên, vì tóc không cần cho sự sống. Mấy hôm nay ăn no, nàng vẫn chưa thấy gì khác, tóc đâu có mọc lại trong ba ngày.
Nàng không ngờ có người để ý đến tóc mình.
"Đắt lắm không anh?"
"Không đắt."
Anh nói dối dở quá. Mắt anh lảng sang cái chậu than, tai thì đỏ ửng lên.
"Để anh chải cho," anh nói, rồi tự mình cũng có vẻ giật mình vì câu vừa nói.
Nguyệt ngồi xuống cái ghế đẩu, quay lưng về phía anh. Nàng tháo cái khăn vấn, để mái tóc rũ xuống lưng. Phía sau nàng, Chính ngồi trên mép giường, cầm chiếc lược trong bàn tay to bè như người ta cầm một con chim non sợ bóp chết.
Anh chải nhát đầu tiên từ đỉnh đầu xuống. Răng lược mắc ngay vào một búi rối giữa lưng.
"Ái!"
Anh giật tay lại như chạm phải lửa. "Đau à?"
"Không… có. Một chút." Nàng nín cười. "Anh phải chải từ đuôi lên. Gỡ chỗ rối ở dưới trước, rồi mới chải dần lên trên."
"Thế à." Anh nghe như lính nghe lệnh. Anh gom đuôi tóc nàng vào lòng bàn tay trái, tay phải cầm lược gỡ từng chút, từng chút một. Chỗ nào rối quá anh lấy ngón tay tách ra trước. Có lúc anh vẫn giật mạnh tay, nàng lại "ái", anh lại dừng, lại lẩm bẩm "xin lỗi". Nhưng dần dần tay anh nhẹ đi, đều đi, như người vót tên đã quen thớ tre.
Nguyệt nhắm mắt.
Lần cuối cùng có người chải tóc cho nàng là mẹ. Ở một nơi rất xa, một buổi tối trước hôm nàng thi tốt nghiệp cấp ba, mẹ bắt nàng ngồi trước gương, vừa chải vừa mắng sao để tóc khô như cỏ. Nàng đã gắt lên, bảo mẹ để con tự làm. Nàng chưa bao giờ nghĩ có ngày mình muốn nghe lại tiếng mắng ấy đến thế.
Còn cô bé Nguyệt của làng Thượng Hà thì chưa từng được ai chải tóc cho, kể từ năm lên năm.
Nước mắt chảy xuống, nàng không lau. Nàng ngồi im cho anh không biết. Nhưng hai vai nàng run, và anh biết.
Chiếc lược dừng lại.
"Anh làm em đau à?"
"Không." Nàng lắc đầu, tóc xõa sang hai bên. "Anh không làm em đau. Lâu lắm rồi… chẳng ai làm thế cho em."
Phía sau, anh im một lúc. Rồi chiếc lược lại tiếp tục, chậm hơn, nhẹ hơn nữa.
⁂
Tóc chải xong, nàng vấn lại khăn. Chiếc lược anh cài vào khăn cho nàng, lệch sang một bên, nàng phải sửa lại.
Hai người ngồi bên chậu than, gần nhau hơn lúc trước một chút. Than đã ngả màu tro, chỉ còn ánh đỏ lấp ló ở giữa.
"Anh Chính."
"Ừ."
"Đêm hôm cưới, anh hỏi sau Tết em muốn đi đâu không. Em chưa trả lời."
Anh không quay sang nhìn nàng. Nhưng nàng thấy hai bàn tay anh đặt trên đầu gối nắm lại.
"Anh bảo rồi. Em không phải trả lời vội."
"Em trả lời bây giờ." Nàng hít một hơi. "Em ở lại."
Than tách một tiếng nhỏ.
"Không phải vì em không có chỗ nào đi," nàng nói tiếp, nhanh hơn, như sợ nếu chậm thì sẽ không nói hết được. "Em nghĩ rồi. Ra Giêng, nếu anh lo cho em một chỗ, em đi chợ huyện, em làm thuê, em nấu cơm cho nhà người ta, em cũng sống được. Em không sợ. Nhưng em không muốn thế. Em muốn ở đây. Ở với anh, với chị Cả, với cái Tuyết… với cái nhà cuối xóm anh nói hôm trước. Em muốn ở."
Chính quay sang. Ánh than hắt lên một bên mặt anh, bên kia chìm trong tối. Nàng không đọc được anh đang nghĩ gì, chỉ thấy anh nhìn nàng rất lâu, như người đứng trên đê nhìn xuống khúc sông mình đã đi qua.
"Em có biết," anh nói chậm, "ở với anh thì khổ. Nhà cũ của u anh dột mất nửa mái. Anh chẳng có ruộng riêng. Lương lính năm năm anh gửi về cho thầy cả rồi. Anh chỉ có cái nỏ với hai bàn tay."
"Em cũng chỉ có hai bàn tay." Nàng chìa hai bàn tay ra trước chậu than, mấy đầu ngón tay còn lấm tấm vết kim. "Nhưng tay em biết nấu. Hôm mổ lợn, anh có thấy người ta vứt bao nhiêu lòng không? Em làm sạch được, kho được, bán được. Mái dột thì anh lợp. Bếp thì em lo. Mình làm dần."
Anh nhìn hai bàn tay ấy. Rồi anh đưa tay ra, úp lên, phủ kín cả hai bàn tay nàng trong hai bàn tay mình. Tay anh ấm, to, và vết sẹo trên mu bàn tay nổi gồ lên dưới ngón tay nàng.
"Ừ. Mình làm dần."
Chỉ thế thôi. Không thề thốt, không hẹn biển hẹn non. Nhưng Nguyệt thấy có một cái gì đó, lần đầu tiên từ cái buổi chiều nằm trong vũng bùn sân nhà họ Lê, đặt chân xuống được một chỗ chắc.
Trước khi ngủ, Chính lấy chiếc áo lính trên rương gỗ, vuốt cho phẳng, xỏ ngón tay vào cái túi nhỏ một lần, như để thử xem nó có thật không. Túi còn trống. Anh bảo chưa biết đựng gì, nhưng thứ gì quý nhất thì sẽ để vào đấy. Nàng không biết rằng về sau, cái túi khâu vụng ấy sẽ đựng một thứ mà nàng phải đi bộ cả một ngày đường mới xin được.
⁂
Sáng hôm sau là ngày lại mặt.
Chị Cả dậy từ canh tư, lúc Nguyệt xuống bếp thì gà đã luộc xong, vớt ra để trên cái mẹt lót lá chuối, da vàng óng, mỏ còn ngậm một bông hoa ớt đỏ. Nồi xôi trắng đồ trên bếp đang bốc hơi. Trên chõng ngoài nhà, một cơi trầu cau têm sẵn, mười lá trầu cánh phượng, buồng cau xanh còn nguyên cuống, và một chai rượu nút lá chuối khô.
"Chị để em làm," Nguyệt nói.
"Thôi, lễ của nhà này sang nhà ấy, nhà này phải bày." Chị Cả xới xôi ra mâm, nén chặt, vuốt mặt cho tròn. Chị làm nhanh, im lặng, mặt hơi nghiêm.
Bày xong, chị lau tay vào vạt áo, đứng nhìn mâm lễ một lúc. Rồi chị quay sang hai vợ chồng, giọng nhỏ nhưng rõ như đếm tiền:
"Nghe chị dặn. Lễ này là lễ nghĩa, nhà mình làm cho đủ phép, không phải để ai khen. Sang bên ấy, mụ Lụa nói gì cũng để ngoài tai. Mụ chê thì để mụ chê, mụ mỉa thì để mụ mỉa. Ăn xong bữa cỗ thì về."
Chị nhìn Chính. Rồi chị nhìn Nguyệt, lâu hơn.
"Đi hai đứa thì về hai đứa. Nghe chưa?"