Căn nhà chân đê
Rạ mới có mùi nắng. Dù đã nằm trong đống suốt mấy tuần mưa, khi người ta rút ra từng nắm, rũ cho tơi, cái mùi ngai ngái, ngòn ngọt của đồng ruộng tháng Mười vẫn bốc lên, xộc vào mũi như người quen chào hỏi.
Nguyệt đứng dưới chân thang, ôm một bó rạ to gần bằng người mình, ngửa cổ nhìn lên mái.
Mái nhà cũ của bà cụ Đào không cao. Bốn mái, hai gian một chái, kèo tre đã ngả màu nâu khói. Anh Mạnh với Chính dỡ rạ mục từ hôm qua, giờ chỉ còn trơ bộ khung đòn tay với những sợi lạt buộc chéo, nhìn lên thấy cả một khoảng trời xám đục bị chia thành những ô vuông. Gió bấc thổi qua, cái khung kêu cót két.
"Em lên đây," nàng nói.
Chính đang đứng trên đòn nóc, quay xuống nhìn. "Em lên làm gì?"
"Hôm dọn sang em đã hứa với chị Cả là em tự trèo lên lợp một góc. Em hứa rồi thì em làm."
"Em hứa với chị Cả, chứ có hứa với cái mái đâu."
Anh Mạnh ngồi trên mái bên kia, đang buộc lạt, không ngẩng lên, nhưng vai anh rung một cái như người nén cười.
Nguyệt không đáp. Nàng quấn vạt áo vào cạp quần, đặt chân lên bậc thang tre thứ nhất.
Bậc thứ ba thì nàng bắt đầu hối hận. Bậc thứ năm thì hai đầu gối nàng run như hai cái lá chuối trước gió. Cô bé Nguyệt của làng Thượng Hà đã từng trèo cây hái sấu, trèo lên đống rơm cao gấp ba người. Nhưng người con gái ở thế kỷ kia thì sợ độ cao từ hồi bé, đi thang cuốn ở siêu thị còn phải nắm chặt tay vịn. Mà xem ra trong hai cái hồn ở chung một cái thân, cái hồn nhát gan lại được việc hơn trong chuyện nói cho cái chân biết phải run.
Lên đến mép mái, nàng ngồi bệt xuống một thanh đòn tay, ôm chặt lấy nó.
"Đấy," Chính nói từ phía trên, giọng càu nhàu. "Lên rồi đấy. Giờ làm gì?"
"Anh đưa rạ đây."
Anh không đưa. Anh xuống. Anh đi dọc theo thanh đòn tay như người đi trên bờ ruộng, chẳng cần vịn vào đâu, ngồi xổm xuống cạnh nàng, rồi mới quay lại hét xuống dưới: "Cu Văn, đưa rạ lên đây."
Cả buổi sáng hôm ấy, anh càu nhàu không ngớt. Rạ em xếp ngược rồi, gốc phải quay lên. Em ngồi lùi vào, đừng thò chân ra. Em buộc lạt thế thì gió bấc nó lật cả mái. Nhưng mỗi khi cu Văn ném bó rạ lên, anh bắt lấy, rũ cho đều, đặt vào tay nàng. Nàng xếp một lớp, anh xếp đè một lớp lên trên, nắn lại chỗ nàng xếp lệch. Nàng buộc một nút lạt, anh buộc thêm một nút bên cạnh, không nói gì.
Đến trưa, góc mái phía Đông đã kín. Nguyệt nhìn cái góc mái ấy, dày dặn, vàng óng, tự thấy mình hơi giống người vừa bảo vệ xong đồ án. Một nửa là công của người hướng dẫn, nhưng cái tên trên bìa vẫn là của mình.
Chính đỡ nàng xuống thang. Đến bậc cuối, chân nàng nhũn ra, anh đưa tay ra đỡ ngang lưng, rồi buông ra ngay như cầm phải than.
"Lần sau," anh nói, "em đứng dưới đưa rạ."
"Lần sau anh nhớ đỡ em sớm hơn."
⁂
Cái bếp thì nàng không nhường ai.
Bếp cũ đặt ở gian chái phía Tây, nhưng Nguyệt đứng ở giữa sân cả một buổi chiều để nhìn khói. Nàng đốt một nhúm rơm ẩm ở góc sân, xem khói bay về đâu. Gió bấc lúc này từ phía Đông Bắc thổi xuống, mang khói lăn qua sân, chui thẳng vào gian nhà chính.
"Bếp đặt ở đấy thì cả mùa rét mình ăn khói," nàng nói với ông Đào. "Rồi sang hè gió Lào thổi từ phía Tây, cái nóng của bếp lại hắt vào nhà."
Ông Đào chống gậy, nhìn đám khói, nhìn nàng, rồi gật đầu. Ông không hỏi gió Lào thì liên quan gì đến cái bếp. Ông chỉ chỉ tay về phía góc vườn phía Nam, chỗ gần bờ ao: "Đặt đấy. Xa nhà một chút, cháy cũng không lan."
Thế là anh Mạnh và Chính dựng một gian bếp nhỏ, cột tre, vách đất trộn rơm, mái rạ, cửa trổ ra hướng Nam đón gió nồm mùa hè, cửa sau trổ ra phía ao để khói thoát. Nguyệt tự đắp ba ông đầu rau bằng đất sét lấy ở bờ ao, nhào với trấu cho khỏi nứt, nặn thành ba khối như ba cái đầu người cúi vào nhau. Nàng đặt chúng thành hình tam giác, khoảng cách vừa một cái nồi bảy, đo bằng gang tay. Phía trên, nàng nhờ Chính làm một cái gác bếp bằng tre, cao hơn đầu người một chút.
"Gác bếp cao thế làm gì," chị Cả hỏi. "Gác bếp nhà người ta thấp, để hun cho nhanh."
"Thấp quá thì cái gì treo lên cũng chín bên ngoài, sống bên trong, chị ạ. Cao một chút, khói lên đến nơi thì đã nguội, hun lâu nhưng khô đều."
Chị Cả nhìn nàng như nhìn đứa trẻ con nói chuyện người lớn, rồi lại nhìn cái gác bếp, rồi bỏ đi, lẩm bẩm "con này nó học ở đâu ra".
Ngày thứ ba, anh Mạnh và cu Văn khơi ao. Bùn đen múc lên đổ quanh gốc chuối. Cái Thúy và cái Tuyết nhặt ốc. Chính chặt những tàu chuối khô, dọn những gốc chuối thối, để lại mười hai gốc khỏe nhất. Chị Cả mang sang một cái chum, hai cái nồi đất, một bó đũa, một cái chõng tre. Ông Đào đưa cho Chính một gói tiền buộc trong mảnh vải đỏ, nói là của u mày để dành cho ngày mày lấy vợ.
Tối hôm ấy, hai vợ chồng ngủ đêm đầu tiên trong căn nhà chân đê. Gian buồng nhỏ, một cái giường tre anh Mạnh đóng vội, một chậu than. Và một tấm chiếu trải dưới đất, cạnh chậu than. Chính trải nó ra rất tự nhiên, như người lính trải chiếu ở doanh trại. Nguyệt nhìn tấm chiếu, định nói gì, rồi thôi.
⁂
Tháng Chạp qua nhanh như nước rút.
Nguyệt muối một vò dưa cải. Cải bẹ của vườn nhà chị Cả, phơi héo một nắng cho bớt nước, rửa sạch, cắt khúc. Nàng pha nước muối, nếm đến chừng mặn như nước mắt thì thôi, thả vào một nắm cơm nguội và mấy củ hành tím đập dập. Chị Cả hỏi bỏ cơm vào làm gì, nàng nói cho dưa nó có cái mà ăn. Chị Cả bảo dưa thì ăn gì, nàng không giải thích được chuyện những con vi khuẩn nhỏ đến mắt không nhìn thấy, ăn đường trong cơm mà sinh ra vị chua, chỉ cười: "Ba hôm nữa chị sang nếm."
Ba hôm sau, dưa vàng ươm, chua dịu, giòn sần sật. Chị Cả nếm một miếng, nếm thêm miếng nữa, rồi xin một bát mang về.
Rồi nàng sên mứt gừng. Gừng già, nàng thái mỏng, ngâm nước vôi trong qua đêm cho miếng gừng giữ được dáng, rồi chần qua nước sôi ba lượt cho bớt cay. Đường phèn mua ở chợ huyện bằng tiền của u, nàng tính từng lạng. Nàng sên trên lửa nhỏ, tay đảo đều, cho đến khi nước đường cạn, kết lại thành một lớp áo trắng mịn bao quanh từng lát gừng vàng trong. Cả gian bếp thơm cay ngọt.
Mứt chia làm ba gói lá chuối, một gói biếu ông Đào, một gói biếu anh chị, một gói để cúng.
Gói của anh chị không sống được đến chiều. Bọn trẻ tìm ra. Cu Võ ăn đến nỗi cay chảy nước mắt mà vẫn không chịu nhả. Cái Tuyết cầm một lát gừng, liếm hết lớp đường bên ngoài, rồi trả lát gừng lại cho thím Hai, nói "cái này thím ăn đi".
⁂
Đêm giao thừa Đinh Mùi, trời không mưa.
Cúng xong ở nhà ông Đào, hai vợ chồng đi về căn nhà chân đê. Đến chỗ con dốc lên đê, Chính dừng lại. "Lên ngồi một lúc không?"
Họ ngồi trên mặt đê, chỗ cỏ đã khô. Bên dưới là sông Lam, đen và rộng, chỉ nghe tiếng nước vỗ mà không thấy nước. Bên kia là làng, ở giữa làng là mái đình, quanh đình đuốc đã đốt sáng rực, từng đốm lửa lắc lư như đàn đom đóm lớn. Tiếng trống đình vọng lại, chậm và trầm.
"Mấy năm đi lính," Nguyệt hỏi, "giao thừa anh ở đâu?"
Chính nghĩ một lúc. "Năm đầu ở đồn trên núi. Rét lắm. Cả đội có một nồi cơm nếp, mỗi người một nắm, chấm muối vừng. Có thằng Cu Tý người Thanh Chương, nó hát ví giặm, hát xong cả đội cùng khóc. Khóc xong lại cười."
"Còn năm sau?"
"Năm sau ở trên thuyền. Năm sau nữa thì gác. Đứng gác thì giao thừa cũng như mọi đêm. Chỉ có điều, đêm ấy anh nhìn lên trời, cứ đoán xem nhà mình bây giờ đang làm gì."
"Đoán đúng không?"
"Chắc là đúng. Năm nào cũng chị Cả mắng anh Mạnh, thầy ngồi uống rượu một mình." Anh cười khẽ. "Năm nay thì anh không phải đoán."
Nàng không nói gì. Nàng nghĩ đến một đêm giao thừa ở một nơi rất xa, có pháo hoa, có điện thoại rung liên hồi vì tin nhắn chúc Tết, có mẹ đứng trong bếp gọi ra bảo bê mâm. Nàng nhớ mà không đau. Như người ta nhớ một bài hát hay mà không còn thuộc lời.
Trống đình nổi lên một hồi dài. Giao thừa.
Chính rút từ trong ngực áo ra một quả quýt, bóc vỏ, tách làm đôi, đưa nàng một nửa. Quả quýt nhỏ và chua. Nàng ăn từng múi, chậm rãi, và nghĩ, chưa có cái Tết nào mà người ta đón bằng nửa quả quýt chua lại thấy no lòng đến thế.
⁂
Mồng bốn Tết, trời hửng.
Chính lấy cái nỏ treo trên vách xuống, vót thêm năm mũi tên tre, đầu tên vót nhọn hoắt, đuôi cài lông gà. Anh giắt con dao quắm vào lưng, quấn xà cạp.
"Anh đi đâu?"
"Lên đồi Muồng." Anh nhìn nàng, rồi nhìn đi chỗ khác. "Kiếm cái gì cho vợ ăn."
"Nhà còn thịt, còn bánh chưng."
"Thịt của chị Cả. Bánh của chị Cả." Anh khoác cái nỏ lên vai. "Anh muốn có cái gì của anh."
Nàng đứng ở đầu dốc nhìn anh đi, cái dáng cao lớn nhỏ dần trên con đường đất đỏ dẫn lên đồi. Đồi Muồng chiều ấy xanh thẫm, đầu đồi có mây.
Trưa, anh chưa về. Nàng tự nhủ đi săn thì phải lâu.
Chiều, anh chưa về. Nàng nhóm bếp, nấu cơm, để phần.
Tối, gà lên chuồng, sương xuống trắng đồng, đốm đuốc cuối cùng ở đình đã tắt. Nguyệt đứng ở đầu dốc đê, tay cầm cái đèn dầu lạc, nhìn về phía đồi Muồng đã chìm vào một khối đen đặc.
Anh vẫn chưa về.