Thịt hoẵng gác bếp
Ngọn đèn dầu lạc cháy đến lần bấc thứ ba thì Nguyệt nghe tiếng chó nhà ai sủa ở đầu xóm.
Nàng đã ngồi bên bếp từ lúc lên đèn, hai tay ôm đầu gối, nồi cơm để phần nguội ngắt. Nàng đã định chạy sang gọi anh Mạnh ba lần, lần nào cũng đứng dậy rồi lại ngồi xuống, nghĩ: anh ấy đi săn năm năm trong rừng, một quả đồi thì làm gì được anh ấy. Rồi nàng lại nghĩ đến vết sẹo trên bụng anh, đến cái dốc đá ong trên đồi Muồng mà cô bé Nguyệt đã từng ngã, đến những con lợn rừng đêm ra ủi khoai. Người học khoa học thì không tin vào điềm gở, nàng tự nói với mình. Nhưng người ngồi một mình bên bếp lúc nửa đêm thì tin vào mọi thứ.
Tiếng chó sủa gần dần. Rồi tiếng bước chân nặng nề trên con dốc đê.
Nàng chạy ra.
Chính đứng giữa sân, dưới ánh sao, người lấm lem từ đầu đến chân, xà cạp rách một bên. Trên vai anh vắt một con vật lông nâu đỏ, bốn chân buộc túm lại, đầu lủng lẳng sau lưng, cặp sừng ngắn chĩa xuống đất.
"Hoẵng," anh nói, giọng khàn, mà có cái gì như là hãnh diện. "Con đực. Anh rình nó từ trưa. Nó chạy sang tận bên kia khe…"
"Anh có biết bây giờ là giờ nào không?"
Giọng nàng to hơn nàng định. Chính đứng sững.
"Em ngồi đây từ chập tối. Em tưởng anh ngã ở dốc đá ong, em tưởng anh gặp lợn rừng, em tưởng…" Nàng không nói tiếp được. Mắt nàng nóng lên, và nàng giận chính mình vì cái mắt ấy.
Anh đặt con hoẵng xuống đất. Rồi anh đứng yên đó, hai tay buông thõng, như đứa trẻ con bị mắng, không biết nên cãi hay nên nhận.
"Anh xin lỗi," anh nói. "Lần sau anh về trước khi tối."
Nàng nhìn anh một lúc. Rồi nàng nhìn con hoẵng. Con vật to bằng con chó lớn, lông dày, mình chắc, mũi tên tre vẫn còn cắm ở ngay sau bả vai, một phát gọn. Nàng thở ra một hơi dài, cái hơi thở mà nàng đã nín suốt từ lúc chiều.
"Đi rửa chân tay đi. Cơm em để phần, em hâm lại." Nàng quay vào, rồi ngoái lại. "Phát bắn đẹp đấy."
Sau lưng nàng, nàng nghe anh cười, một tiếng khẽ khàng như người vừa được tha.
⁂
Sáng mồng năm, Nguyệt xẻ hoẵng.
Chính lột da, anh làm nhanh và khéo, con dao quắm đi theo lớp mỡ dưới da như người ta cởi một cái áo. Còn lại là việc của nàng. Nàng lọc thịt thăn, thịt đùi, thịt vai ra thành từng tảng dài cỡ cẳng tay, dày chừng hai đốt ngón. Xương thì để ninh. Lòng thì nàng làm sạch, xào với lá lốt cho bữa trưa.
Rồi nàng tính.
Thịt muốn để lâu thì phải lấy nước ra. Nước là chỗ ở của những thứ làm thịt thối. Ở thế kỷ kia, người ta có máy sấy, có tủ lạnh, có máy đo độ ẩm. Còn ở đây, nàng có muối, có khói, có gió bấc, và có cái gác bếp nàng đã bắt Chính làm cao hơn đầu người.
Nàng giã riềng, giã gừng, giã ớt, giã sả. Muối hột rang qua cho khô, giã nhỏ. Nàng xát hỗn hợp ấy lên từng tảng thịt, xát kỹ vào từng thớ, đặt vào cái thạp sành, lấy đá nén lên. Muối hút nước ra khỏi thịt, riềng và gừng làm át mùi gây của thú rừng, ớt thì vừa cay vừa giữ màu. Ướp một đêm. Sáng hôm sau, nàng chắt bỏ thứ nước đỏ hồng dưới đáy thạp, lau khô từng tảng, xâu lạt tre, treo lên gác bếp.
Mỗi sáng, nàng trèo lên cái chõng, lật từng tảng thịt, sờ, bóp, ngửi. Ngày đầu, thịt còn mềm, bóp vào thì lõm. Ngày thứ ba, mặt ngoài se lại, khô như da thuộc, nhưng ấn mạnh thì vẫn thấy bên trong còn ướt. Nàng bắt Chính đun bếp nhỏ lửa, chỉ cho khói, đừng cho lửa bốc. Củi thì dùng gỗ nhãn khô chị Cả cho, khói ít cay, thơm. Ngày thứ bảy, mỗi tảng thịt đã teo lại còn chừng một nửa, màu nâu sẫm như gỗ lim, cầm lên cứng như que, bẻ ra thì thớ thịt bên trong đỏ sậm, khô đều, thơm mùi khói quyện mùi riềng.
Chính đứng dưới nhìn nàng lật thịt, mỗi sáng một lần, như người đứng xem thầy lang bắt mạch.
"Em làm như là ngày nào cũng thăm người ốm," anh nói.
"Thì nó cũng là người ốm. Ốm nước. Em phải xem bao giờ nó khỏi."
Bọn trẻ nhà chị Cả thì không đợi được thịt khỏi ốm. Chiều nào cũng có ba bốn cái đầu thò vào cửa bếp, hít hít, rồi hỏi "thím Hai ơi bao giờ ăn". Nàng nướng cho mỗi đứa một miếng nhỏ, xé sợi, chấm muối ớt. Cu Võ ăn xong liếm cả ngón tay.
Nồi xương thì nàng ninh suốt một đêm với gừng nướng và mấy củ hành, hớt bọt ba lần, được một nồi nước trong như nước chè. Nàng múc một liễn, Chính bưng sang biếu ông Đào. Ông húp một hớp, đặt bát xuống, hỏi thằng Chính bắn ở chỗ nào. Chính kể, chỗ khe nước phía sau đồi, chỗ ngày xưa u hay dẫn anh lên hái sim. Ông Đào ngồi im một lúc lâu, rồi bảo: "U mày mà còn, u mày mừng." Ông không nói u mừng vì con hoẵng hay vì cái gì khác. Chính cũng không hỏi.
Về đến nhà, anh đứng ở cửa bếp nhìn vợ đang lật thịt trên gác, nhìn lâu đến nỗi nàng phải quay xuống hỏi anh có chuyện gì. Anh bảo không có chuyện gì, rồi đi bổ củi, bổ nhiều hơn số củi cả nhà đốt trong một tuần.
⁂
Rằm tháng Giêng, anh Mạnh ghé qua.
Anh đứng giữa gian bếp, ngẩng nhìn lên những tảng thịt hoẵng treo lủng lẳng trên gác, nâu bóng trong khói. Anh không nói gì. Anh với tay lấy một tảng, bẻ một mẩu, cho vào miệng nhai rất lâu.
"Nhà phó lý ở chợ huyện," anh nói, "ra Giêng có khách trên tỉnh về. Hỏi tao mua thịt rừng. Mày để cho tao hai phần."
Nguyệt nhìn Chính. Chính nhìn nàng.
Anh Mạnh mang đi hai phần, mỗi phần ba tảng, gói trong lá chuối khô. Chiều tối, anh quay lại, đặt lên chõng một xâu tiền.
"Ba trăm đồng," anh nói. "Lão phó lý trả giá, tao không bớt."
Rồi anh đi.
Hai vợ chồng ngồi nhìn xâu tiền dưới ngọn đèn dầu. Ba trăm đồng, xâu thành sáu chuỗi, mỗi chuỗi năm mươi. Không nhiều. Bằng nửa quan. Nhưng không phải tiền của ông Đào, không phải tiền của anh chị, không phải tiền của u để dành. Là tiền của một mũi tên tre và bảy ngày khói.
Chính cầm một chuỗi lên, lật đi lật lại, như chưa bao giờ trông thấy tiền.
Còn Nguyệt thì nhìn xâu tiền mà không thấy xâu tiền. Nàng thấy một con hoẵng thì ít, một con lợn thì nhiều. Nàng thấy cái gác bếp này treo được bao nhiêu cân. Nàng thấy những thứ người ta vứt đi ở lò mổ, những thứ người ta bán rẻ như cho ở chợ, những thứ ngon mà không ai biết cách làm cho ngon. Nàng thấy chợ huyện, thấy bến sông, thấy những người có tiền mà không có gì để ăn, và những thứ để ăn mà không ai biết đem đến chỗ người có tiền. Giữa hai thứ ấy là một khoảng trống. Mà nghề của nàng, ở thế kỷ nào cũng thế, là lấp khoảng trống ấy.
"Em đang nghĩ gì?" Chính hỏi.
"Em đang nghĩ," nàng nói, "đây là đồng tiền đầu tiên của nhà mình."
⁂
Đêm ấy trời trở rét đột ngột. Gió bấc rít qua khe liếp, lạnh cắt da. Than trong chậu tàn nhanh hơn mọi khi.
Chính đã trải chiếu xuống đất, như mọi đêm. Anh nằm nghiêng, quay lưng về phía giường, cái chăn mỏng anh đắp chỉ đủ phủ đến ngang ngực. Nguyệt nằm trên giường, nghe tiếng gió, nghe tiếng anh thở. Nàng đếm. Một trăm hơi thở. Hai trăm. Rồi anh co người lại, hai đầu gối co lên gần ngực, như người lính ngủ trong hào.
"Anh Chính."
"Ừ."
"Đừng nằm đất nữa." Nàng nói nhanh, trước khi kịp đổi ý. "Trời rét. Anh mới khỏi. Nằm đất thì hơi lạnh từ đất nó ngấm lên, em không muốn lại phải sắc thuốc cho anh."
Bóng tối im lặng một lúc lâu.
Rồi tiếng chiếu sột soạt. Tiếng bước chân. Cái giường tre kêu khẽ một tiếng khi anh ngồi xuống mép giường, rất thận trọng, như sợ nó gãy, hay sợ một cái gì đó khác gãy.
Nàng dịch vào trong, nhường cho anh một nửa tấm chăn bông.
Hai người nằm cạnh nhau dưới một tấm chăn, không ai cựa. Bên ngoài, gió bấc vẫn rít. Nhưng dưới chăn đã ấm dần lên. Nguyệt nằm nghiêng, má tựa vào vai anh, và nàng nghe thấy tim anh đập, mạnh, đều, mà nhanh hơn một người đang ngủ, cũng như tim nàng.
⁂
Sáng hôm sau, cái Tuyết chạy sang gọi thím Hai sang ăn bánh, thò đầu vào gian bếp thì thấy chú Hai đang đứng trên chõng, lật mấy tảng thịt hoẵng hộ thím.
Trên gác bếp, ngay cạnh những tảng thịt nâu bóng, có thêm một thứ mà hôm qua chưa có: một tấm chiếu cói cuộn tròn, buộc lạt hai đầu, gác ngang trên mấy thanh tre.
Cái Tuyết hỏi chú Hai treo cái chiếu lên đấy làm gì.
Chú Hai đỏ mặt, bảo hun cho khỏi mốc.