LNCrawler

Nồi lòng thứ ba

Bên Dòng Sông Lam — vtruyen.vn · All chapters

Nồi lòng thứ ba

Mùi quế bám vào vách bếp ba ngày chưa tan.

Nó gắt, khét, ngai ngái như vỏ cây cháy dở, chui vào kẽ liếp, vào nắm rạ mới lợp trên mái, vào cả chân tóc Nguyệt. Nàng đã cọ cái nồi đất bằng tro và xơ mướp bốn lần, đem phơi nắng. Thế mà mỗi lần đi ngang, nàng vẫn ngửi thấy nó, như một lời trách không to không nhỏ.

Nồi thứ nhất đã đổ cho con lợn nhà chị Cả. Con lợn ăn sạch. Nhưng lợn thì cái gì cũng ăn.

Nàng ngồi xổm trước ba ông đầu rau còn ấm, và nghĩ lại từ đầu.

Đám phu ở bến Rộ không có thì giờ ngồi xuống, không có bát, không có đũa. Họ cần một thứ nóng, cầm được trong tay, ăn hết trong mười nhịp thở, đủ mỡ đủ thịt để cái bụng chịu được đến trưa. Và phải rẻ, rẻ đến mức một người phu đếm mấy đồng tiền trong lòng bàn tay mà vẫn dám bỏ ra. Ở thế kỷ kia, người ta gọi thứ ấy là đồ ăn đường phố. Ở đây, nó chưa có tên.

Thứ nàng có trong tay thì chỉ có một: lòng lợn. Người ta chê lòng vì hôi, vì mất công, vì ăn vào hay đau bụng. Cả ba lý do ấy đều đúng. Và cả ba đều là chuyện làm sạch, chứ không phải lỗi của cái lòng.

Kho thì càng hợp. Muối và đường rút nước ra khỏi thịt, nước ít thì vi khuẩn khó sống, nồi kho để từ sáng đến chiều chưa thiu. Mà mùi kho bay xa. Nàng hình dung cái nồi đặt ở đầu bến, gió sông đưa mùi sả mùi hồi vào mũi đám phu đói, và thấy chẳng cần rao lấy một câu.

Kế hoạch thì đẹp. Nồi thứ nhất thì đắng.

⁂

Phần làm sạch, nàng không sai bước nào.

Mỗi lần anh Mạnh mổ lợn, chị Cả lại sai cu Văn xách sang một bộ lòng, dặn đi dặn lại là không lấy tiền. Ruột non tuốt sạch, rồi lộn trái bằng một cái que tre Chính vót tròn đầu, nhẵn như đũa ngà. Lớp nhớt trắng đục lộ ra, trơn tuột. Nàng bốc một nắm muối hột, hạt to và sắc cạnh như mảnh sành nhỏ, bóp mạnh. Muối cọ vào lòng như giấy ráp, kéo nhớt ra thành từng mảng.

Sau muối là tro. Nước tro xám lờ nhờ, sờ vào trơn tay, có tính kiềm, gặp mỡ thì bẻ mỡ ra như xà phòng. Ngâm tro xong, nàng xả nước ao, rồi thả lòng vào chậu nước có chút phèn chua tán nhỏ. Phèn làm mặt lòng se lại, mấy cặn bẩn còn sót vón cục, rời ra lơ lửng. Sau phèn là chanh, chà cả vỏ. Mùi khai của lòng thì sợ chua.

Cuối cùng là gừng. Lòng thả vào nồi nước sôi có ba củ gừng đập dập, chừng hai mươi nhịp thở thì vớt ra, nhúng ngay vào nước giếng lạnh buốt. Nóng rồi lạnh đột ngột thì thớ thịt co lại, trắng ngà, ăn mới giòn.

Ba lần làm, ba lần như một. Sạch đến mức chị Cả sang chơi, cúi xuống ngửi cái chậu, nhăn mặt chờ một mùi hôi, rồi ngẩng lên với vẻ hơi thất vọng.

Cái hỏng nằm ở chỗ khác.

Nồi thứ nhất hỏng vì quế. Ông Đào có một khúc quế Quỳ cất trong rương để ngâm rượu thuốc, nghe con dâu hỏi thì bẻ cho một mẩu dài bằng hai đốt ngón tay. Quế núi Quỳ vỏ dày, mặt trong đỏ như son, bẻ ra thì dầu rịn thành giọt. Nàng thả cả mẩu vào nồi như thả mấy thanh quế mỏng tang ngày xưa mua ở chợ, rồi để nó ninh suốt hai canh giờ. Nồi lòng đắng như thuốc bắc, nuốt xuống rồi vẫn còn bám ở cuống họng.

Nồi thứ hai, quế chỉ một mẩu bằng đốt ngón út, vớt ra từ sớm. Lần này đến lượt nước mắm. Chị Cả cho nàng một hũ mắm vừa gạn từ chum đầu năm, thứ mắm cốt đặc sánh, màu như mật ong để lâu. Nàng rót bằng đúng cái chén lần trước, quên mất lần trước là thứ mắm pha nước đã loãng đi một nửa.

Chính nếm miếng đầu tiên của nồi thứ hai. Mặt anh không đổi. Anh nhai, nuốt, rồi đứng dậy đi ra chum nước, múc liền ba gáo.

"Mặn à anh?"

"Không," anh nói, lau miệng. "Ăn miếng này thì đi ba ngày đường không cần mang muối theo."

Nàng muốn cáu, nhưng lại bật cười.

⁂

Sau nồi thứ hai, nàng nhận ra một điều đáng xấu hổ: nàng không nhớ chính xác mình đã cho bao nhiêu. Ở phòng thí nghiệm ngày trước, cô giáo hướng dẫn bảo người làm thực phẩm mà không ghi chép thì chỉ là người nấu ăn gặp may. Ở đây không có cân, không có đồng hồ, không có giấy, càng không có bút. Giấy bản với mực tàu là thứ của nhà đồ nho.

Nhưng có cái cột bếp.

Cột gỗ xoan đen bóng vì khói, khía vào đâu cũng lộ ra thớ gỗ vàng sáng. Nàng mượn con dao nhíp Chính vẫn dùng để vót tên, khắc lên cột một hàng ký hiệu. Một cái que dựng đứng là quế. Một cái vòng tròn là mắm. Một dấu nhân là mật mía. Bên cạnh mỗi ký hiệu, nàng khía vạch. Mỗi vạch một lượng: với quế là một đốt ngón út, với mắm là một chén, với mật là một thìa gỗ. Hàng trên là nồi thứ nhất, cạnh cái que quế có một dấu gạch xéo thật sâu. Hàng dưới là nồi thứ hai, dấu gạch xéo nằm cạnh cái vòng tròn.

Chính đứng ở cửa bếp nhìn vợ cầm dao khắc vào cột nhà, nhìn một lúc lâu.

"Em làm chi thế?"

"Ghi sổ."

"Sổ?"

"Em không có giấy." Nàng thổi bụi gỗ đi. "Nồi nào hỏng, hỏng vì đâu, em khắc vào đây. Lần sau khỏi sai lại."

Anh không hỏi thêm. Tối hôm ấy, nàng thấy anh lấy hòn đá mài, mài cho con dao nhíp sắc hơn, rồi lặng lẽ đặt nó lên gác bếp, ngay chỗ nàng với tay là tới.

⁂

Nồi thứ ba, nàng bắt đầu từ mật.

Mật mía màu hổ phách, sánh như hồ dán, nàng múc ba thìa vào cái chảo gang nhỏ, đặt lên lửa than nhỏ. Mật sủi lăn tăn rồi từ từ ngả sang vàng sậm, mùi thơm như bánh cháy cạnh. Nàng không rời mắt khỏi chảo. Đúng lúc mặt mật chuyển sang màu cánh gián, nâu đỏ và bóng, nàng đổ ngay vào một gáo nước sôi. Xèo một tiếng, hơi phụt lên, mật sôi trào rồi dịu xuống. Chậm một nhịp nữa là thành than, đắng nghét. Nàng đã có một nồi đắng rồi, không cần thêm nồi thứ hai.

Mỡ lợn thắng sẵn đổ vào nồi đất. Riềng thái lát mỏng, sả đập dập rồi băm, mấy tép tỏi, hai quả ớt khô. Mỡ nóng thì thả vào, mùi riềng sả bốc lên cay cay ngai ngái. Lòng thái khúc thả vào đảo cho săn. Mắm lần này nàng pha với nước luộc xương, một chén mắm cốt lấy một chén rưỡi nước. Nước màu đổ vào, cả nồi lòng từ trắng ngà chuyển sang nâu đỏ.

Ngũ vị gói trong mảnh vải màn buộc túm: hai cánh hồi, nửa quả thảo quả nướng qua cho dậy mùi, hai nụ đinh hương, một mẩu quế Quỳ nhỏ bằng đốt ngón út, dăm hạt tiêu. Mấy thứ mua ở hiệu ông Lưu Khách đắt hơn cả bộ lòng, nên nàng tính từng nụ. Gói vải thì đủ vị là vớt ra được.

Kho liu riu. Nước kho sủi từng bóng nhỏ, lười biếng, như một con cá già thở dưới đáy ao.

Rồi nàng bắc nồi xuống, đặt vào một cái sọt lót rơm khô dày cả gang tay, phủ rơm kín nắp, đè lên trên cái nón cũ của chị Cả. Rơm và nồi đất dày giữ nhiệt, lửa tắt rồi lòng vẫn tự chín tiếp suốt đêm, thấm vị vào tận thớ mà không nhừ nát. Ở thế kỷ kia, người ta bán những cái nồi ủ bằng inox đắt tiền để làm đúng việc này. Ở đây chỉ cần một sọt rơm.

Mà sọt rơm thì gánh được ra bến.

⁂

Sáng hôm sau, nàng gạt rơm, mở nắp.

Hơi nóng vẫn bốc lên. Nước kho đã sệt lại, màu nâu cánh gián óng ánh. Lòng non săn lại, mép hơi cong. Mùi riềng sả, mùi hồi, mùi mật cháy cạnh quyện vào nhau, không thứ nào giành phần thứ nào.

Nàng gắp một miếng, đưa cho Chính.

Anh cầm, thổi, cho vào miệng. Rồi anh im.

Anh im lâu quá. Quai hàm anh chuyển động chậm rãi, mắt nhìn vào một chỗ nào đó trên vách bếp. Tim nàng đập nhanh như hồi chờ cô giáo chấm điểm đồ án.

Chính nuốt. Anh không nói. Anh với lấy đôi đũa, gắp miếng thứ hai. Rồi miếng thứ ba. Rồi miếng thứ tư.

"Anh," nàng nói. "Anh phải nói chứ."

Anh đặt đũa xuống, nhìn nàng.

"Nói chi?" Giọng anh hơi khàn. "Anh đang ăn mà."

Nàng thở ra một hơi rất dài. Rồi nàng cầm con dao nhíp trên gác bếp, khắc hàng thứ ba lên cột. Không có dấu gạch xéo nào. Cuối hàng, nàng khắc một vòng tròn bao quanh tất cả.

Khắc xong, nàng không quay lại. Nàng nói với cái cột bếp, vì nhìn vào cái cột thì dễ nói hơn.

"Anh Chính. Em nói thật với anh một chuyện."

"Ừ."

"Từ hôm ra ở riêng, anh chị cho mình gạo, cho mình tiền. Chị Cả ba hôm lại sai cu Văn mang sang khi rổ rau, khi bộ lòng. Tiền bán thịt hoẵng em đã tiêu một ít vào hồi với thảo quả. Cứ tiêu thế này thì chưa hết tháng Hai là cạn." Nàng ngừng một chút. "Em không muốn mình sống bằng lòng thương của ai. Anh chị thương mình thật. Nhưng thương thì không phải gạo. Người ta thương mình một tháng, hai tháng, rồi cũng phải mỏi. Em muốn đến lúc cu Văn xách giỏ sang, mình có cái mà gửi lại."

Sau lưng nàng, Chính im một lúc.

"Ừ," anh nói. Rồi anh đi ra ngoài.

⁂

Đêm ấy là rằm tháng Giêng. Trăng tròn và trắng bệch như cái đĩa sứ phủ sương.

Chính ngồi một mình trên mặt đê, chỗ hai vợ chồng đã ngồi đêm giao thừa. Dưới chân đê, sông Lam chảy lặng. Xa tít phía hạ lưu, có mấy đốm đuốc đỏ của thuyền đậu đêm ở bến Rộ.

Anh nghĩ đến cái giọng đều đều, rành mạch như người đếm tiền của vợ, chẳng có chút gì là trách. Mà chính vì không trách, anh mới thấy nóng mặt.

Năm năm đi lính, lương anh gửi về cho thầy cả. Về làng, anh có một vết sẹo, một cái nỏ, và hai bàn tay. Hôm vác con hoẵng từ đồi Muồng về, anh đã thấy mình là một người đàn ông lo được cho vợ. Vậy mà hôm nay, nghe vợ tính đến tận tháng Hai, anh thấy mình như cái bóng của chính mình dưới trăng kia, ngả dài ra mà mỏng dẹt.

Nó mười sáu tuổi. Nó đã nghĩ xa đến thế. Còn anh thì vẫn đang ăn gạo của anh chị.

Anh ném một hòn sỏi xuống sông. Tiếng tõm nhỏ xíu, mất hút.

Phải kiếm ra tiền. Nhiều hơn mấy con hoẵng. Nhiều hơn mấy nồi lòng. Anh chưa biết bằng cách nào, nhưng anh biết việc đầu tiên phải làm.

Trước khi gà gáy lần thứ nhất, anh đã đứng gõ cửa nhà anh Mạnh.