Bánh đa kẹp lòng
Đòn gánh mới còn thơm mùi tre tươi.
Chính đẽo nó từ một cây tre đực già mọc sát bờ ao, hơ lửa cho cong vừa vai, chuốt hai đầu thành hai cái mấu tròn để quang khỏi tuột. Hai cái thúng anh đan lại lòng, lót một lớp rơm khô dày, giữa có lõm sâu vừa khít đáy nồi đất. Nồi đặt vào, rơm ủ quanh thân, trên nắp phủ thêm một lớp rơm nữa, ngoài cùng là mảnh vải dầu buộc chặt bốn góc. Thúng bên kia đựng vò dưa cải, con dao thái, cái thớt gỗ nhỏ, một chồng lá chuối đã lau sạch.
Nguyệt đặt tay lên nắp nồi qua lớp rơm. Vẫn ấm. Nàng đã cho lòng vào ủ từ tối qua, gánh đi một quãng đường nửa canh giờ, đến bến vẫn còn nóng.
"Nặng không anh?"
"Không bằng con hoẵng," Chính nói, rồi ghé vai vào gánh.
Lòng hôm nay không phải là lòng cho không. Sáng hôm trước, anh Mạnh đã đứng ở cổng nhà, tay còn cầm con dao pha, nói một câu ngắn như chém xuống thớt: "Lòng, anh để cho. Lấy đúng giá anh bán cho người ta. Mỗi bộ năm đồng. Tiền thì cuối phiên đưa." Rồi anh quay vào, không để ai kịp cảm ơn. Chị Cả đứng sau lưng chồng, nhìn Nguyệt, nháy mắt một cái. Nàng hiểu. Giá vốn thì không phải là cho. Mà không phải là cho thì nàng nhận được.
⁂
Bến Rộ lúc canh năm vẫn tối.
Gió sông thổi ngược lên, ẩm và buốt, mang theo mùi bùn, mùi nước, mùi muối từ những khoang thuyền đậu ngoài xa. Đám phu đã tụ lại, đứng, ngồi, ngồi xổm, quanh mấy đống lửa nhỏ đốt bằng rác vỏ trấu. Có người quấn chiếu quanh vai. Có người đứng dậm chân liên hồi cho ấm. Tiếng ho khục khặc, tiếng khạc nhổ, tiếng ai đó chửi thề vì con muỗi mùa đông.
Bà Ba vẫn ngồi ở chỗ cũ, sát chân cái cầu gỗ dẫn xuống nước, trước một lò than nhỏ đắp bằng đất sét. Bà gầy và khô như cái que, đầu quấn khăn mỏ quạ, miệng móm, hai má hóp vào. Bà cầm một cái kẹp tre dài, lật lật mấy chiếc bánh đa trên than. Bánh phồng lên, cong mép, rộp những bọng nhỏ, tỏa ra mùi vừng rang và mùi gạo cháy.
Nguyệt đặt gánh xuống bên cạnh bà.
"Bà ơi, cháu ngồi đây được không ạ?"
Bà Ba ngẩng lên, nheo mắt nhìn nàng, nhìn Chính, nhìn đôi quang gánh.
"Mi là con bé hôm trước hỏi han lắm điều đó hả?"
"Dạ."
"Đất của sông, không phải của tau. Ngồi thì ngồi." Bà lại lật bánh. "Mà bán chi? Bán cái chi thì cũng đừng có bán bánh đa, tau đánh cho."
Nguyệt cười. Nàng mở nắp nồi. Hơi nóng bốc lên trong gió lạnh thành một cột trắng, cuộn lại rồi tan. Mùi riềng, mùi sả, mùi hồi, mùi mật cháy cạnh lan ra như mực loang trên giấy. Bên đống lửa gần nhất, mấy người phu ngẩng đầu lên cùng một lúc, như một bầy chim nghe tiếng động.
Bà Ba khịt mũi. Cái mũi nhăn lại.
"Lòng hả?"
"Dạ, lòng kho, bà ạ. Cháu muốn hỏi bà một việc." Nàng ngồi xuống cạnh lò than, hạ giọng. "Bánh đa bà bán một đồng một chiếc. Cháu mua của bà, cũng một đồng. Cháu kẹp lòng thái mỏng với dưa cải vào giữa, bán hai đồng. Người ta mua một chiếc bánh kẹp thì bà vẫn bán được một chiếc bánh. Cứ mỗi chục chiếc bán được, cháu chia thêm cho bà hai đồng nữa, công bà nướng."
Bà Ba dừng tay. Cái bánh trên than bắt đầu cháy xém mép. Bà vội lật, rồi quay sang nhìn Nguyệt, hai mắt lờ đục mà vẫn sắc.
"Mi tính cho tau à? Hay mi tính lừa tau?"
"Cháu tính cho cả hai, bà ạ. Một mình bánh đa thì người ta ăn không no. Một mình lòng thì người ta không có cái gì để cầm. Gộp lại thì vừa cầm vừa no."
"Hai đồng." Bà Ba lẩm bẩm. "Phu bến người ta mua cái bánh đa một đồng còn phải nghĩ. Hai đồng thì ai mua?"
"Thì bà cứ cho cháu thử một phiên."
Bà nhìn nàng thêm một lúc nữa. Rồi bà chìa cái bánh vừa nướng xong ra, giọng cộc lốc.
"Làm thử tau xem."
⁂
Nàng thái lòng mỏng như lá lúa. Dạ dày cắt lát xéo, ruột non cắt khúc ngắn, mỗi chiếc bánh vài miếng mỗi loại, rưới một thìa nước kho sánh. Dưa cải vớt từ vò ra, vàng ươm, chua dịu, thái nhỏ rải lên trên. Chua cắt béo. Giòn đi với dai. Nóng đi với nguội. Nàng gấp chiếc bánh đa lại làm đôi, bánh kêu rắc một tiếng khẽ, nứt dọc theo nếp gấp mà không vỡ, vì bánh vừa ra lò còn dẻo. Nàng lót một mảnh lá chuối ở dưới cho khỏi dính tay, đưa cho bà Ba.
Bà Ba cắn. Hàm không còn răng, bà phải dùng lợi day day. Nước kho chảy xuống cằm bà. Bà không lau.
Bà nhai rất lâu, mắt nhắm lại.
"Cái đồ con ranh," bà nói, mắt vẫn nhắm. "Làm răng mà lòng không hôi?"
"Cháu rửa kỹ."
"Rửa kỹ." Bà mở mắt. "Tau rửa lòng sáu chục năm nay, lòng vẫn hôi." Rồi bà quay hẳn người lại, kéo cái lò than xích về phía gánh của Nguyệt. "Được. Hai đồng thì hai đồng. Nhưng mi nhớ, mười chiếc hai đồng. Thiếu một đồng là tau nhổ vào nồi lòng mi."
⁂
Chuyện chia lãi thì xong. Chuyện bán thì chưa.
Đám phu nhìn. Họ nhìn nồi lòng, nhìn cái lò bánh đa, nhìn cô gái nhỏ thó với người đàn ông cao lớn đứng sau. Có người hít hít mũi, nuốt nước bọt đánh ực. Nhưng không ai lại gần. Nguyệt nghe được mấy tiếng xì xào: "Lòng đó. Lòng lợn." "Ăn vào đi tháo đến chiều thì vác cái chi." "Hai đồng, bằng hai cái bánh đa."
Nàng đã đoán trước điều này. Người ta không sợ cái đắt. Người ta sợ cái lạ.
Trời rạng dần. Màu xám đục trên sông ngả sang màu chì, rồi màu tro. Nồi lòng vẫn đầy. Bà Ba ngồi bên cạnh, khẽ chép miệng, nhưng không nói gì.
Rồi một gã trai trẻ bước tới.
Gã gầy đét, hai xương vai nhô lên dưới lớp áo vá như hai cái móc treo, cổ dài, tóc buộc túm bằng một sợi dây chuối khô. Gã chừng mười bảy mười tám, đứng dậm chân cho đỡ rét, tay thọc vào trong bụng áo.
"Bán cho một cái," gã nói, mắt không nhìn nàng mà nhìn nồi.
Từ phía đống lửa, có người cười to: "Thằng Khoát Lép đói quá hóa liều rồi."
Gã tên Khoát không quay lại. Gã đếm hai đồng tiền từ bụng áo ra, đặt vào tay Nguyệt, hai đồng ấm hơi người. Nàng kẹp cho gã một chiếc thật đầy, lòng nhiều hơn mức nàng định.
Gã cắn một miếng. Rồi gã đứng sững.
Gã cắn miếng thứ hai. Miếng thứ ba. Chiếc bánh đa to bằng cái nón con hết trong một loáng, gã liếm cả nước kho dính trên mảnh lá chuối. Rồi gã thọc tay vào bụng áo lần nữa.
"Hai cái nữa." Gã quay về phía đống lửa. "Cái nữa cho thằng Mão, cái nữa cho lão Tịnh. Bọn bay không ăn thì bọn bay ngu."
⁂
Thằng Mão ăn. Lão Tịnh ăn. Lão Tịnh mặt mày nhăn nheo như quả táo tàu, ăn xong không nói không rằng, móc ra hai đồng, chìa tay xin chiếc nữa. Rồi một người khác đứng dậy. Rồi hai người.
Đúng lúc ấy, từ phía hạ lưu, có tiếng tù và rúc lên một hồi dài. Thuyền cập.
Đám phu nhổm cả dậy. Ai cũng biết, thuyền cập là phải vác, vác thì đến trưa mới có cái mà ăn. Thế là cả đám ùa lại chỗ gánh lòng như gà ùa lại nong thóc. Tay chìa ra, tiền chìa ra, đồng tiền xu kêu lách cách, có đồng rơi xuống cát.
"Từ từ! Từ từ!" Bà Ba quát, cái kẹp tre vung lên như cây roi. "Đứa mô chen là tau cho ăn bánh cháy!"
Nguyệt thái không kịp. Chính nhảy vào, cầm lá chuối, đỡ bánh, nhận tiền, bỏ vào cái ống tre buộc ở đầu đòn gánh. Anh nhận tiền mà mặt mày nghiêm trọng như đứng gác cổng thành. Bà Ba nướng bánh, tay thoăn thoắt, bánh vừa phồng đã lật, vừa lật đã gắp ra, hai má móm mém phập phồng.
Lúc mặt trời ló khỏi rặng tre bên kia sông, cái nồi lòng đã cạn, vét đến đáy cũng không còn một khúc. Vò dưa cải chỉ còn nước. Chợ huyện phía trên dốc vẫn chưa mở cửa, mấy hàng quán còn đang hạ tấm phên.
⁂
Trên đường về, bà Ba đòi đi cùng một quãng, bảo nhà bà cũng ở phía ấy, dù Nguyệt biết thừa nhà bà ở ngược lại.
Bà đi một đoạn lại dừng, móc túi đếm tiền. Đếm xong bỏ vào túi, đi thêm mấy bước, lại móc ra đếm. Bảy mươi tư chiếc bánh. Bảy mươi tư đồng tiền bánh của bà, cộng mười sáu đồng tiền công Nguyệt chia. Một buổi sáng mà bằng bà bán ròng rã mấy phiên.
"Mi chia hớ rồi," bà nói, đếm lần thứ năm. "Bảy mươi tư chiếc thì là bảy chục lẻ bốn, chia mười bốn đồng là đủ. Mi đưa tau mười sáu."
"Bốn chiếc lẻ cháu làm tròn cho bà."
Bà Ba ngẩng lên. Rồi bà cười. Cái miệng móm há ra, đen ngòm không còn cái răng nào, hai mắt híp lại thành hai sợi chỉ, cười thành tiếng khục khục như gà mái gọi con.
"Con ranh. Mai mi có ra nữa không?"
Nguyệt chưa kịp trả lời thì sau lưng họ, từ phía bến, có một giọng ồm ồm vọng lên, to và trầm như tiếng trống đình bị nứt:
"Ê! Con mẹ bán lòng! Mai còn không? Thuyền tau mười bốn đứa, chừa phần đủ cho cả đoàn!"