LNCrawler

Sổ nợ bằng que tre

Bên Dòng Sông Lam — vtruyen.vn · All chapters

Sổ nợ bằng que tre

Người có giọng ồm ấy hóa ra to ngang cửa.

Ông ta đứng trên mũi chiếc thuyền lớn nhất trong ba chiếc thuyền đậu nối đuôi nhau ở bến Rộ, mình trần dù trời rét, chỉ quàng một tấm áo tơi lá lên vai. Ngực ông rộng như cái mẹt, râu quai nón rậm và cứng như chổi xể, da bóng màu gỗ lim bị nắng gió biển nung nhiều năm. Khi ông nhảy từ mũi thuyền xuống cầu gỗ, cả cái cầu oằn xuống, kêu răng rắc.

Bà Ba bảo đó là ông đội Thuyền. Ông chẳng đội chi cả, bà nói, chỉ là cả bến gọi thế vì ông cầm đầu cả một đoàn ba chiếc thuyền chở muối từ cửa Hội ngược lên. Tên thật ông là Cả Thuyền. Người ta còn đồn ông nợ ai một đồng thì nhớ một đồng, ai nợ ông một đồng thì ông nhớ cả đời.

Mấy phiên liền, đoàn thuyền của ông ăn lòng của Nguyệt.

Mỗi sáng, cứ lúc nàng vừa mở nắp nồi là tiếng ông đã ồm ồm vang lên từ trên thuyền: "Mười bốn cái!" Thế là mười bốn chiếc bánh đa kẹp lòng được gói lá chuối, xếp vào một cái rổ tre, một thằng phu thuyền xuống bê đi, ông thì móc túi trả đủ hai mươi tám đồng, không thiếu một đồng. Có hôm thiếu, ông móc thêm. Có hôm thừa, ông bảo để mai. Nguyệt chưa thấy ai trả tiền mà giống trả thù như thế.

Còn mười phu bến chuyên bốc hàng cho đoàn của ông thì ăn riêng, mỗi đứa tự đếm tiền tự trả.

Đến phiên thứ sáu, ông Cả Thuyền không đứng trên mũi thuyền gọi nữa. Ông tự đi lên, ngồi xổm cạnh gánh lòng, cái dáng to như con trâu nằm, bắt đầu nói chuyện với Nguyệt mà mắt cứ nhìn nồi.

"Này, con mẹ."

"Dạ, ông cứ gọi cháu là Nguyệt."

"Nguyệt thì Nguyệt." Ông gãi cằm, râu kêu sột soạt. "Tau tính thế này. Đoàn tau còn đậu đây dỡ hàng bốn hôm nữa, rồi xuôi về cửa Hội lấy chuyến muối khác. Đi về độ mười ngày. Mười phu bến bốc hàng cho tau thì ở lại, đợi thuyền về mà bốc. Tiền công bọn nó tau trả theo chuyến, chuyến muối về thì có tiền. Giữa chừng thì bọn nó rỗng túi." Ông chỉ tay về phía đám phu đang ngồi quanh đống lửa. "Mười đứa đó, với mười bốn đứa thuyền tau, từ nay ăn của mi, ghi nợ cho tau. Cuối mỗi chuyến muối về, tau trả một lần. Đủ, không thiếu."

Bà Ba ngồi bên cạnh, cái kẹp tre trên tay dừng giữa chừng.

Nguyệt không trả lời ngay.

Hai mươi tư người trong bốn hôm thuyền còn đậu, rồi mười người trong mười ngày chờ thuyền về. Mỗi người một sáng ăn một chiếc, có đứa ăn hai. Cộng lại là ba bốn trăm chiếc, là sáu bảy trăm đồng. Tiền lòng nàng phải trả anh Mạnh cuối mỗi phiên. Tiền bánh phải trả bà Ba ngay mỗi sáng, vì bà Ba sống bằng mấy đồng ấy. Nếu ông Cả Thuyền không về, hay về mà không trả, cái gánh lòng mới được mấy phiên này sẽ chìm như hòn đá ném xuống sông Lam.

Ở thế kỷ kia, nàng học qua một môn quản trị, thầy giáo vẽ lên bảng một đường cong, bảo cái chết của những cửa hàng nhỏ không phải là ế, mà là bán chịu.

Nhưng nàng cũng nhìn thấy mười người phu ngồi bên đống lửa, mấy hôm nay mỗi sáng mua một chiếc, có đứa nhịn. Mười ngày đợi thuyền mà không có tiền công, chúng sẽ nhịn hết.

"Ông Cả," nàng nói. "Cháu không biết chữ nhiều. Phu bến cũng không biết chữ. Ghi nợ thì ghi vào đâu ạ?"

Ông Cả Thuyền nhíu mày. Rõ ràng ông chưa nghĩ đến chuyện ấy. Ông nợ ai một đồng thì nhớ một đồng, nhưng hai mươi tư người thì không phải ai cũng có trí nhớ của ông.

"Thì mi nhớ."

"Cháu nhớ, rồi đến lúc trả, người ta bảo cháu nhớ sai thì sao?"

Ông Cả Thuyền im. Bà Ba cười khục khục.

"Cho cháu nghĩ đến mai," Nguyệt nói. "Sáng mai cháu trả lời ông."

⁂

Tối ấy nàng ngồi bên bếp, nhìn cái cột gỗ xoan với ba hàng ký hiệu khắc dọc.

Khía vạch vào gỗ. Không cần chữ. Ai nhìn cũng đếm được. Nhưng khía lên một cái cột thì chỉ mình nàng giữ. Người nợ không có gì trong tay, lúc trả tiền chỉ biết tin lời nàng. Mà lòng tin là thứ hàng dễ thiu nhất.

Rồi nàng nhớ ra một thứ. Một hình vẽ trong cuốn sách lịch sử kinh tế nàng lật qua thời năm nhất, ở thư viện tầng ba, một buổi chiều trời mưa: hai nửa que gỗ ghép lại, trên mặt khía những vết khắc chạy ngang qua cả hai nửa. Người cho vay giữ một nửa, người vay giữ nửa kia. Muốn ăn gian thì phải khía thêm hoặc gọt bớt trên cả hai nửa cùng lúc, mà nửa kia thì nằm trong tay người khác.

"Anh Chính," nàng gọi ra hè. "Anh chẻ cho em mấy cái que tre được không? Chẻ đôi, mà hai nửa phải ghép lại khít nhau."

Chính đang ngồi vót tên ngoài hè, ngẩng lên. "Mấy cái?"

"Hai mươi tư."

Anh không hỏi để làm gì. Anh đứng dậy, đi ra bụi tre đầu ngõ.

Gần nửa đêm, hai mươi tư thanh tre dài bằng gang tay, mỗi thanh to bằng ngón cái, được chẻ đôi dọc thớ, hai nửa ghép vào nhau thì khít như chưa từng tách. Chính chẻ bằng con dao rựa, tay đặt dao đúng giữa đốt tre, gõ một nhát nhẹ, rồi tay kia bẻ dọc theo thớ, tre tách ra kêu tách một tiếng khô. Không thanh nào lệch.

"Anh chẻ đẹp quá."

"Vót tên năm năm," anh nói. "Lệch một sợi là tên bay vẹo."

⁂

Sáng hôm sau, ở bến Rộ, Nguyệt bày hai mươi tư cặp que lên cái mẹt.

"Mỗi người một cặp," nàng nói to, cho cả đám phu và người thuyền đứng quanh nghe. "Ai muốn khắc dấu gì lên đầu que thì khắc. Dấu của mình, mình nhớ. Mỗi sáng ăn một chiếc, cháu ghép hai nửa que lại, khía một vạch ngang qua cả hai. Nửa này người ăn giữ. Nửa kia cháu giữ. Ăn bao nhiêu chiếc thì bao nhiêu vạch. Đến lúc ông Cả trả tiền, cháu ghép que lại, đếm vạch trước mặt mọi người. Ai thấy thiếu thì cãi, ai thấy thừa thì cãi. Trả xong, bẻ que, ném vào lửa."

Đám phu nhìn nhau. Rồi Khoát Lép là đứa đầu tiên bước tới, chọn một cặp que, mượn con dao nhíp của nàng, khắc lên đầu que một cái hình méo mó.

"Cái chi đó?" bà Ba hỏi.

"Con cá trê," Khoát nói, rất tự hào.

"Trông như con giun bị dẫm."

Cả bến cười ầm. Nhưng sau Khoát, thằng Mão khắc ba cái chấm. Lão Tịnh khắc một hình cái móc câu. Một ông lái thuyền khắc một hình ngôi sao. Người khắc hình cái nón, người khắc chữ thập, người chỉ khía hai nhát chéo như dấu nhân. Ông Cả Thuyền thì cầm một cặp que, không khắc gì, chỉ cắn vào đầu que một nhát, để lại dấu răng.

"Dấu của tau," ông nói. "Đứa mô bắt chước được thì tau cho ăn không."

Phiên ấy, lần đầu tiên, Nguyệt cầm con dao nhíp, ghép hai nửa que của Khoát Lép lại, khía một vạch ngang. Tre mới, vết khía trắng tinh, đi qua cả hai nửa như một đường chỉ. Nàng tách que ra, đưa một nửa cho Khoát, giữ nửa kia.

Khoát cầm nửa que của mình, lật đi lật lại, rồi cẩn thận giắt vào búi tóc như giắt một cây trâm.

⁂

Bốn hôm sau, đoàn thuyền của ông Cả dỡ xong hàng, nhổ neo xuôi về cửa Hội. Mười phu bến ở lại.

Chẳng mấy hôm, chuyện cái gánh lòng có sổ nợ bằng tre đã lan khắp bến Rộ. Người bán củi ở bến bên kia sang hỏi, chèo đò ngang cũng hỏi, cả mấy ông lính trạm dừng chân uống nước cũng hỏi. Ai cũng gọi nàng là thím Hai, vì một hôm cu Văn theo ra bến, cứ "thím Hai ơi, thím Hai à" suốt buổi, thế là cả bến gọi theo, kể cả mấy ông già đáng tuổi ông nội nàng.

"Sổ nợ của thím Hai đó," người ta chỉ vào cái bó que. "Không giấy không mực, mà không ăn gian được một vạch."

Chính treo bó que lên cột bếp, ngay dưới mấy hàng ký hiệu nồi lòng. Hai mươi tư nửa que buộc chung bằng một sợi lạt, lủng lẳng, mỗi lần gió lùa vào bếp lại va nhau kêu lách cách như chuông gió.

Mỗi tối, sau bữa cơm, Chính gỡ bó que xuống, ngồi bên bếp lửa đếm. Anh đếm từng que, miệng lẩm nhẩm, ngón tay to lần theo từng vạch khía, chậm rãi, cẩn thận như người đếm tên trong ống tên trước trận. Đếm xong anh nói con số, rồi đếm lại lần nữa cho chắc.

"Hai trăm linh tám chiếc," một tối anh nói, lúc thuyền đi đã được năm hôm.

"Em đếm cũng ra hai trăm linh tám."

"Thế thì đúng." Anh treo bó que lên. "Bốn trăm mười sáu đồng."

Nàng ngồi nhìn anh, cái vai rộng cúi xuống bên lửa, cái miệng lẩm nhẩm đếm. Anh không biết chữ, nhưng anh không đếm sai bao giờ. Anh không nói gì về chuyện tiền, nhưng mỗi tối đếm xong, anh lại ra ngồi trên đê một lúc, nhìn xuống phía hạ lưu.

Ngày thứ mười kể từ hôm thuyền đi, nàng gánh lòng ra bến từ canh năm như thường lệ. Mười phu bến đã ngồi đợi sẵn, mắt dán về phía cửa sông.

Đến trưa, không có cánh buồm nào.

Ngày thứ mười một cũng không.