Đò rước dâu
Cái khăn vành dây đè xuống trán nàng nặng như một cái vành nong.
Mụ Lụa quấn thêm một vòng, kéo căng đến mức hai thái dương Nguyệt giật giật. Tay mụ thô và lạnh, có mùi tro bếp lẫn mùi dầu dừa vừa chải tóc cho cái Thoa. Mụ vừa quấn vừa lẩm bẩm, nửa như dặn, nửa như chửi:
"Đầu với cổ gì mà bé như đầu con vịt, quấn mãi không chặt. Sang bên ấy mà để rơi khăn giữa sân thì người ta lại bảo nhà này không biết dạy con." Mụ giật mép khăn một cái cho phẳng. "Thằng Chính sắp chết thì mặc nó sắp chết, cưới vẫn phải ra cưới. Mày cứ cúi đầu cho thấp, người ta bảo gì thì dạ, bảo lạy thì lạy. Xong đêm nay là việc của nhà người ta."
Thằng Chính sắp chết. Cái Thoa nói câu ấy từ lúc gà gáy, giờ mụ Lụa nói lại, giọng thản nhiên như nói con lợn sắp đến lứa xuất chuồng.
Nguyệt đứng im cho mụ quấn. Trong đầu nàng, một cái bảng tính đã mở ra từ lâu, lạnh và gọn như bảng số liệu trong phòng thí nghiệm.
Dâu xung hỉ. Người chồng bệnh nặng, ông lang bảo khó qua mùa xuân. Nếu xung không được, vài tháng nữa nàng thành gái góa. Gái góa ở thời này khổ thật, nhưng có một điều nàng nhớ rõ từ những trang sử đọc vội trước kỳ thi: đàn bà góa được tự đứng tên ra chợ, tự gánh, tự bán, không phải hỏi cha, không phải hỏi chồng. Một người đàn bà có hai bàn tay, có cái đầu biết lên men tương, ủ giấm, muối dưa cho khỏi khú, thì không đến nỗi chết đói.
Nàng nhận ra mình vừa lập một kế hoạch làm ăn bắt đầu bằng một đám tang, và thấy hơi buồn nôn. Thầy dạy quản trị ở trường mà nghe được chắc sẽ không cho điểm cao. Người kia dù sao cũng đang sống, đang thở trong một gian buồng nào đó ở đầu làng. Nàng không muốn ai chết. Nàng chỉ không còn sức để chống lại thêm một lần nào nữa.
Thôi thì đi. Ra khỏi cái nhà này đã.
Cái Thoa đặt lên đầu nàng chiếc nón quai thao, kéo sụp xuống trước trán. Vành nón rộng, nàng chỉ còn nhìn thấy được một khoảnh đất ngay trước mũi chân, hai bàn chân trong đôi dép cỏ mới, và vạt áo tứ thân màu đỏ điều sột soạt mỗi khi bước.
⁂
Tiếng chiêng đến trước, rồi mới đến tiếng người.
Bong. Bong. Bong. Tiếng chiêng đồng vọng lên từ phía sông, chậm và vang, đè lên tiếng gió bấc. Theo sau là tiếng trống con dồn dập như mưa rào, và tiếng trẻ con reo:
"Đò rước dâu! Đò rước dâu về bến Lê!"
Nguyệt nghe tiếng chân chạy rầm rập trên bờ đê, tiếng bùn bắn lép bép, tiếng một bà nào đó quát với theo "Chạy ngã gãy răng bây giờ!". Cả xóm như bừng dậy. Nhà nào cũng có người đứng ở ngõ.
Đường bộ từ cuối xóm lên đầu làng mấy hôm mưa liền đã nát như cháo. Nhà họ Đào không cho dâu lội bùn. Họ thuê một chiếc đò dọc, xuôi theo sông Lam đến tận bến cuối xóm để rước.
Lễ ở nhà họ Lê diễn ra rất nhanh. Chị Cả đi trước, bưng cơi trầu têm cánh phượng, theo sau là ông Đào mặc áo the cũ đã giặt hồ, rồi anh Mạnh, rồi mấy người đàn ông nhà trai. Hương được thắp lên bàn thờ. Nguyệt quỳ xuống, lạy bốn lạy.
Trên bàn thờ có một bát hương nhỏ, đặt khuất sau bát hương to của ông bà. Đó là bát hương của mẹ đẻ cô bé kia. Bát hương ấy cắm toàn chân hương cũ, đã lâu không ai thắp. Nàng không biết mặt người đàn bà ấy, chỉ biết bà mất năm con gái lên năm. Lạy đến lạy thứ tư, nàng thì thầm trong miệng một câu không ai nghe thấy: con đưa nó đi đây, bà yên tâm.
Lúc nàng đứng dậy, ông Trụ bước tới gần. Ông không nhìn nàng, mắt vẫn dán xuống nền đất như mọi khi. Ông nói một câu, nhỏ đến mức suýt lẫn vào tiếng chiêng:
"Đi… đi mà ăn ở cho tử tế."
Chỉ thế thôi. Rồi ông lùi lại sau lưng vợ.
Nguyệt đi theo chị Cả ra ngõ, men theo bờ đê xuống bến. Dưới vành nón, nàng nhìn thấy những vệt bùn, những dấu chân trẻ con in lộn xộn, những ngọn cỏ gà úa vàng ướt sương. Rồi đến mấy bậc đất xẻ dốc xuống mép nước, và mạn đò sơn đỏ, buộc hai lá cờ đuôi nheo bay phần phật.
Nàng dừng lại. Bậc cuối trơn như mỡ. Mạn đò chòng chành cách bờ một sải chân.
Một bàn tay chìa ra trước mặt nàng.
Bàn tay rất to, to đến mức nàng phải nhìn hai lần. Ngón tay dài, đốt xương rõ, lòng tay có những vết chai cứng ở gốc ngón, không phải chai của người cầm cuốc mà của người cầm thứ gì đó tròn và nhỏ hơn, như cán dao hay báng nỏ. Trên mu bàn tay có một vết sẹo dài, trắng nhợt, chạy chéo từ khớp ngón trỏ đến gần cổ tay, như ai đó từng lấy một sợi chỉ bạc khâu lên da.
Nàng đặt tay mình vào. Bàn tay kia khép lại, ấm, khô, và chắc như một cái móc sắt. Người đó kéo nhẹ, nàng bước qua, chân chạm sàn đò mà không hề chao.
Sau lưng nàng, trên bờ, tiếng xì xào của nhà họ Lê bỗng tắt ngấm.
Nguyệt không quay lại được, vì cái nón. Nàng chỉ nghe tiếng cái Thoa rít lên một câu cụt lủn "Ơ, thế kia…", rồi tiếng mụ Lụa quát "Im!", rồi im hẳn. Nàng đoán họ đang trố mắt ra nhìn chiếc đò, nhìn chiêng trống, nhìn cờ, vì nhà họ Lê đã bao giờ có con gái được rước bằng đò. Nghĩ vậy, nàng thấy hả hê một chút, rồi lại thấy mình trẻ con.
⁂
Mụ Lụa đứng trên bờ đê, chân lún trong bùn, mắt dán vào người đàn ông vừa đỡ con kia xuống đò.
Cao hơn anh Mạnh nửa cái đầu. Vai rộng. Lưng thẳng như cây sào. Đi trên bậc đất trơn mà vững như đi trên nền gạch. Mụ đã thấy cái dáng ấy năm năm trước, hồi thằng con thứ hai nhà họ Đào còn chưa đi lính, hay vác bẫy lên đồi Muồng.
Thằng Chính. Thằng sắp chết.
Một cục nghẹn trào lên cổ họng mụ. Mụ mở miệng định nói. Đúng lúc ấy, anh Mạnh đứng ở mũi đò quay lại. Anh không nói gì, chỉ nhìn lên bờ, đưa tay vỗ nhẹ vào ngực áo, chỗ tờ giao kèo gấp tư vẫn nằm đó. Một cái vỗ rất khẽ.
"Mẹ ơi," cái Thoa giật áo mẹ, giọng the thé, "thế này mà sắp chết à?"
"Im mồm!" Mụ Lụa gạt tay con gái ra, quay ngoắt vào ngõ. Chiêng trống sau lưng mụ nghe như tiếng ai đang cười.
⁂
Đò ra giữa dòng thì gió lớn hơn.
Sông Lam mùa này nước đục, màu phù sa đỏ quạch, chảy chậm mà sâu. Hai bên bờ là bãi ngô đã thu hoạch, trơ những gốc khô, xa hơn là lũy tre làng xanh sẫm và đồi Muồng thoai thoải dưới trời mây xám. Trên bờ đê, bọn trẻ vẫn chạy theo, đứa trước đứa sau, có đứa ngã chổng kềnh xuống cỏ rồi lại lồm cồm bò dậy chạy tiếp, vừa chạy vừa gào: "Cô dâu đẹp quá! Cô dâu đẹp quá!"
Chúng nó có nhìn thấy mặt cô dâu đâu mà biết đẹp hay xấu. Nhưng Nguyệt vẫn thấy mắt mình cay.
Nàng ngồi giữa khoang đò, hai tay đặt trên đùi, nhìn vạt áo đỏ của mình. Cô bé kia sống mười sáu năm chưa từng được ai làm cho cái gì đàng hoàng. Không một bữa cơm sinh nhật, không một bộ áo mới may đúng người, không một lần có ai đến tận cửa nhà gọi tên mình. Giờ thì có chiêng, có trống, có đò đỏ cờ bay, có bọn trẻ cả xóm chạy theo. Dù là vì một người sắp chết, dù chỉ để xung hỉ, thì đây vẫn là lần đầu tiên có người làm cho nó một việc tử tế từ đầu đến cuối.
Gió bấc lùa qua mạn đò, lạnh buốt. Nguyệt rụt cổ lại. Một lát sau, gió bớt hẳn. Nàng hé vành nón nhìn lên, thấy người đàn ông cao lớn kia đã chuyển sang ngồi ở mạn bên trái, đúng phía gió thổi tới, lưng quay về phía nàng như một tấm phên. Anh ta không nói gì, cũng không nhìn nàng, chỉ ngồi đó, hai tay đặt trên gối, bàn tay có vết sẹo hơi nắm lại.
Nàng nghĩ một lúc rồi hiểu ra. Chú rể ốm liệt giường, không ra gió được. Theo tục làng, phải có một người anh em trai trong họ đi rước thay, lạy thay. Người này không phải anh Mạnh, vì anh Mạnh đang đứng ở mũi đò. Có lẽ là một người em con chú con bác, hoặc anh họ bên ngoại. Người nhà họ Đào chắc ai cũng cao lớn thế cả.
Một người tử tế, nàng nghĩ. Biết ngồi chắn gió cho dâu của em mình.
⁂
Nhà họ Đào ở cách bến đầu làng chỉ một quãng ngõ lát gạch vỡ. Lần đầu tiên Nguyệt bước qua cái cổng ấy với tư cách là người trong nhà. Mái ngói âm dương đen bóng sau mưa, sân gạch quét sạch bong, trên bệ đá mổ lợn dưới gốc mít có người đặt một chậu hoa cúc vàng, chắc để cho đỡ trông dữ.
Gian giữa đã bày sẵn bàn thờ, hương trầm bốc lên thơm nồng. Ông Đào thắp ba nén hương, khấn bằng một giọng trầm và chậm, xin tổ tiên chứng giám cho con cháu là Đào Chính lấy vợ là Lê Thị Nguyệt, xin phù hộ cho trong ấm ngoài êm, xin cho cái hỉ đè được cái hạn.
Người đàn ông có vết sẹo bước lên đứng cạnh nàng. Hai người cùng quỳ xuống, cùng lạy.
Lạy xong, chị Cả cúi xuống, nhẹ nhàng nâng vành nón lên khỏi đầu nàng.
Ánh sáng tràn vào mắt, chói đến mức nàng phải chớp mấy cái. Nàng hơi nghiêng đầu nhìn sang bên cạnh. Một khuôn mặt nghiêng: trẻ, sạm nắng, sống mũi thẳng, quai hàm vuông, đôi lông mày rậm hơi nhíu lại như người đang rất chú tâm. Anh ta nhìn thẳng lên bàn thờ, không quay sang. Một khuôn mặt khỏe mạnh đến mức không ai có thể nghĩ người ấy từng ốm một ngày nào.
Có một thoáng gì đó lướt qua trong ký ức của cô bé kia, một con dốc, một bó củi, nhưng mờ quá, nàng không bắt kịp.
Người lạy thay, nàng tự nhủ. Mấy lạy này rồi cũng là lạy cho người đang nằm trong buồng.
Nàng đưa mắt nhìn quanh tìm gian buồng có người ốm. Phía Đông có một cánh cửa gỗ đóng im.
Chị Cả nắm lấy cổ tay nàng, bàn tay dày và nóng, giọng hạ xuống chỉ đủ hai người nghe:
"Xong rồi. Vào buồng thôi. Đói lắm rồi phải không?"