Mương nước đục (1)
Giờ Dần.
Trời còn chưa sáng hẳn. Sương sớm phủ kín mặt mương thành một lớp trắng đục, đứng bờ này không nhìn thấy bờ bên kia.
Giang Triệt ngồi xổm trên tảng đá xanh ven mương. Hắn ôm hai đầu gối, mắt dán vào cái phao lông ngỗng đang dập dềnh giữa đám lục bình.
Cần câu trong tay hắn là một đoạn trúc tự vót, dài chừng hai trượng. Đầu cần đã nứt một đường nên hắn phải quấn mấy vòng chỉ gai cho khỏi gãy. Dây câu cũng là chỉ gai se đôi. Còn lưỡi câu thì làm từ một cây kim khâu nung đỏ rồi uốn cong, hắn mài suốt ba đêm mới nhọn.
Bên chân hắn đặt một ống tre đựng giun đất. Giun đào từ gốc chuối sau nhà, vẫn còn ngọ nguậy.
Mương nước này không có tên. Người làng Bạch Lô gọi nó là “mương làng” vì nó chảy ngang qua ba mươi nóc nhà sàn rồi mới đổ ra sông Bạch Lô. Nước mương quanh năm đục ngầu. Mùa hè thì nổi váng, mùa đông thì bốc mùi bùn. Cá trong mương cũng giống người trong làng, nhỏ con và gầy guộc, sống được ngày nào hay ngày đó.
Cá to thì phải ra sông, mà sông thì có thuyền nhà người ta. Cá lớn nhất và ngon nhất thì ở Kính Hồ sau núi.
Nhưng Kính Hồ là của tiên nhân.
Giang Triệt khẽ thở ra một hơi. Hơi thở vừa ra khỏi miệng đã hóa thành khói trắng.
Đầu thu mà sáng sớm đã lạnh. Hắn mặc áo vải thô, vai trái vá chồng ba miếng, gió lùa vào lạnh thấu xương. Vậy mà hắn vẫn ngồi im không nhúc nhích. Cha hắn từng nói câu cá thì kỵ nhất là động.
“Cá diếc ăn nhẹ lắm. Phao nhấp một cái là nó đang nếm, nhấp hai cái là nó ngậm, nhấp ba cái mới là nó nuốt. Giật sớm thì mất mồi, giật muộn thì mất cá.”
Năm đó hắn mới mười tuổi. Hắn ngồi trên đầu gối cha, cũng trên đúng tảng đá này.
Đã sáu năm rồi.
Phao khẽ động.
Một cái.
Giang Triệt nín thở.
Hai cái.
Ngón tay hắn siết chặt cần câu hơn một chút.
Ba cái.
“Lên!”
Hắn hất nhẹ cổ tay. Dây chỉ gai căng lên, đầu cần cong xuống. Một con cá diếc nhỏ bằng ngón tay quẫy đuôi bay khỏi mặt nước rồi rơi gọn vào lòng bàn tay hắn.
Vảy bạc bụng trắng, đuôi hơi ửng đỏ. Nhỏ đến mức đáng thương.
Giang Triệt nhìn nó một lúc rồi cẩn thận gỡ lưỡi câu, thả vào cái giỏ tre ngâm dưới mép nước.
“Một con.”
Hắn lẩm bẩm, móc thêm một con giun rồi lại vung cần.
Phao rơi xuống gần đúng chỗ cũ, giữa hai đám lục bình có mấy bọt khí nhỏ thỉnh thoảng nổi lên. Bọt nhỏ mà lăn tăn là cá diếc đang rúc bùn. Bọt to nổ lụp bụp là cá trê. Còn bọt dày thành một vệt dài thì là tôm.
Mấy thứ này cũng là cha dạy. Người làng Bạch Lô ai mà chẳng biết câu cá, nhưng nói đến chuyện đọc nước thì cả làng không ai qua được Giang Lão Tam.
Cho nên năm đó người ta vớt xác ông từ Kính Hồ lên, cả làng không ai tin ông chết đuối.
Không tin thì cũng chẳng làm được gì. Kính Hồ thuộc về Thanh Lãng Tông. Người của tiên môn bảo ông lén vào hồ cấm rồi trượt chân chết đuối, thì ông chính là lén vào hồ cấm rồi trượt chân chết đuối.
Giang Triệt lắc đầu, ép mình không nghĩ nữa. Nghĩ mấy chuyện này cũng không câu được con cá nào.
Sương mỏng dần. Phía đông sau rặng tre, trời ửng lên một màu xám hồng. Gà bắt đầu gáy. Đầu mương có tiếng mái chèo khua nước và tiếng người gọi nhau dậy đi kéo lưới.
Làng chài đã thức dậy.
Đúng lúc này phao lại động. Lần này nó không nhấp mà chìm thẳng xuống, kéo theo cả một vệt nước.
Giang Triệt giật cần theo phản xạ. Dây căng như dây đàn và đầu cần cong vòng xuống. Từ dưới nước truyền lên một lực giãy giụa mạnh hơn hẳn con lúc nãy.
“Con này to!”
Hắn bật dậy, hai chân bám chặt mặt đá trơn. Tay trái hắn nắm gốc cần, tay phải đỡ thân cần, nhưng không dám kéo mạnh.
Dây chỉ gai kéo mạnh là đứt. Cần trúc đã nứt đầu, kéo mạnh là gãy. Hắn chỉ có thể chờ.
Dưới nước, con cá lao sang trái thì hắn nghiêng cần sang phải. Nó lao vào đám lục bình thì hắn hạ cần sát mặt nước rồi kéo ngang, không cho nó quấn dây vào rễ cỏ.
Qua chừng hai chén trà, lực giãy yếu dần.
Giang Triệt thu dây từng chút một. Cuối cùng một cái lưng cá màu vàng sẫm trồi lên mặt nước.
Là một con cá diếc to bằng bàn tay.
Hắn cúi xuống, dùng cả hai tay bợ nó lên. Con cá quẫy một cái cuối cùng làm nước bùn bắn đầy mặt hắn. Giang Triệt cũng không buồn lau, chỉ nhìn con cá trong tay rồi nhếch miệng cười, lộ ra một cái răng khểnh.
Ở mương làng, cá diếc cỡ này nửa tháng chưa chắc đã gặp một lần.
“Hai con.”
Hắn bỏ cá vào giỏ rồi ngồi xuống tảng đá, xoa hai bàn tay đã đỏ lên vì lạnh.
Hắn ngồi thêm nửa canh giờ nữa mà phao không động lần nào.
Mặt trời đã lên khỏi rặng tre. Cá diếc chỉ ăn lúc sáng sớm, nắng lên là chúng lặn xuống bùn hết. Ngồi nữa cũng vô ích.
Giang Triệt thu dây cuộn quanh thân cần, đậy nắp ống giun rồi nhấc giỏ cá lên.
Hai con cá diếc, một con bằng ngón tay và một con bằng bàn tay. Hắn nhẩm tính trong đầu.
“Con nhỏ một đồng. Con to may ra được ba đồng. Nhưng ra chợ làng thì thế nào cũng bị ép giá, cộng lại chắc được bốn đồng.”
Bốn đồng thì đủ mua nửa cân gạo tấm.
Hắn xách giỏ men theo bờ mương đi về cuối làng.
......
Nhà họ Giang là căn nhà sàn cuối cùng của làng Bạch Lô. Nhà nằm sát khúc mương uốn cong, cách nhà hàng xóm một vườn chuối.
Nhà dựng trên bốn cột tre, lợp lá dừa nước. Mái lá mục đã hơn nửa nên chỗ nào dột hắn lại đặt một cái chậu sành bên dưới. Đêm nào mưa, cả nhà nằm nghe nước nhỏ vào chậu tí tách như tiếng mõ.
Dưới gầm sàn có một chiếc thuyền nan nằm úp. Đáy thuyền đã mọc rêu xanh, mạn thuyền thủng hai lỗ to bằng nắm tay.
Đó là thuyền của cha. Sáu năm nay không ai chèo. Đem bán thì không ai mua, còn đốt đi thì hắn không nỡ.
Giang Triệt vừa đặt giỏ cá xuống bậc thang tre thì trong nhà vọng ra tiếng ho.
“Khụ... khụ khụ...”
Tiếng ho khàn đặc và đứt quãng. Lần nào ho cũng như muốn kéo cả lá phổi ra ngoài.
Hắn vội vàng leo lên thang.
Trong nhà tối om, chỉ có chút ánh sáng lọt qua khe vách. Một bà lão gầy gò ngồi bên bếp lửa đã tàn. Trên đùi bà là tấm lưới cá đan dở, tay vẫn còn cầm thoi. Mắt trái của bà trắng đục và nhắm hờ, chỉ có mắt phải nheo lại nhìn ra cửa.
“Triệt nhi về rồi à?”
“Bà ơi, sao bà dậy sớm thế? Trời còn lạnh lắm.”
Giang Triệt bước tới lấy cái áo bông cũ trên vách khoác lên vai bà, rồi cúi xuống thổi bếp.
Than hồng lóe lên. Hắn bẻ thêm mấy que củi khô bỏ vào cho lửa bén.
“Già rồi nên ngủ không được.” Bà cười, nếp nhăn trên mặt xô lại từng lớp. “Câu được mấy con?”
“Hai con ạ. Có một con to lắm, bà xem này.”
Giang Triệt chạy xuống thang xách giỏ lên, bợ con cá diếc to ra khoe.
Bà ghé mắt phải lại gần nhìn rồi gật gù.
“To thật. Ngày xưa cha mày câu ở cái mương này, cả buổi sáng cũng chỉ được con cỡ này là cùng.”
“Thật hả bà?”
“Bà lừa mày làm gì.” Bà đưa tay vuốt nhẹ lưng con cá rồi lại ho. “Khụ... đem ra chợ bán đi. Bán được thì mua ít gạo.”
Giang Triệt im lặng một lúc rồi mới nói nhỏ.
“Con to để lại nấu cháo cho bà.”
“Bà không ăn đâu. Bà ăn cháo trắng quen rồi.”
“Bà...”
“Đem bán.” Bà gõ cái thoi xuống đầu gối. Giọng bà không lớn nhưng không cho cãi. “Tháng này tiền gạo còn chưa đủ, mày tưởng bà không biết chắc?”
Giang Triệt mím môi không nói nữa. Hắn bỏ con cá lại vào giỏ, ngâm xuống chum nước dưới gầm nhà cho cá sống, rồi quay lên nấu cháo.
Gọi là cháo chứ chỉ có một nắm gạo tấm nấu với nửa nồi nước. Hắn múc cho bà bát đặc nhất, còn mình thì húp phần nước loãng ở trên.
Bà ăn được vài thìa thì lại ho. Bà ho đến mức bát cháo trong tay run lên, mấy giọt văng ra ngoài.
Giang Triệt đỡ lấy cái bát rồi vỗ nhẹ lưng bà. Lưng bà gầy đến mức hắn sờ thấy từng đốt xương sống.
Ho xong, bà thở dốc một hồi lâu rồi cười xòa như không có chuyện gì.
“Già rồi. Ho chút thôi mà.”
Giang Triệt vâng một tiếng rồi cúi đầu. Hắn biết bà không chỉ ho chút thôi.
Tháng trước hắn đã đưa bà lên trấn khám thầy lang Vương. Thầy lang bắt mạch rất lâu rồi kéo hắn ra ngoài cửa nói nhỏ. Phổi của bà có bệnh, mà không phải bệnh mới. Là bệnh cũ đã lâu năm. Mùa đông năm nay nếu không có thuốc tốt thì e là...
Thầy lang không nói hết câu, mà cũng không cần nói hết.
“Thuốc tốt là thuốc gì ạ?”
“Bạch Lộ Hoàn. Mỗi tháng uống một hộp.”
“Một hộp bao nhiêu tiền ạ?”
“Ba lượng bạc.”
Ba lượng bạc.
Giang Triệt còn nhớ lúc đó mình đứng ngây ra ở cửa tiệm thuốc rất lâu.
Một lượng bạc là một ngàn đồng. Ba lượng là ba ngàn đồng. Hắn câu cả buổi sáng được bốn đồng.
......
Bà ăn xong lại cầm thoi đan tiếp. Bà đan lưới thuê cho người trong làng. Mỗi tấm được mười đồng, mà năm ngày bà mới đan xong một tấm.
Giang Triệt rửa bát, quét nhà, xách nước xong thì ngồi xuống bậc cửa.
Hắn lấy ngón tay vẽ lên mặt sàn tre đầy bụi.
“Mỗi sáng câu được bốn đồng, may thì sáu đồng. Một tháng ba mươi ngày thì nhiều nhất được một trăm tám mươi đồng.”
“Bà đan lưới mỗi tháng được sáu mươi đồng.”
“Tiền gạo, tiền muối với tiền dầu đèn mỗi tháng ít nhất cũng mất một trăm hai mươi đồng.”
“Vậy là còn dư...”
Ngón tay hắn dừng lại.
“Còn dư một trăm hai mươi đồng một tháng. Muốn có ba ngàn đồng thì phải...”
Hắn không tính tiếp nữa.
Phải mất hai mươi lăm tháng, tức là hơn hai năm. Mà đó mới chỉ là một hộp thuốc. Bà thì cần mỗi tháng một hộp.
Giang Triệt nhìn mấy con số trên mặt sàn rất lâu. Sau đó hắn đưa tay xóa sạch.
Bụi bay lên trong vệt nắng.
“Không đủ thì kiếm thêm.”
Hắn tự nói với mình, giọng rất nhỏ.
“Cá không cắn câu thì đổi mồi chứ không đổi chỗ.”
Câu này cũng là cha hắn hay nói.
Hắn đứng dậy đi xuống gầm nhà, nhấc giỏ cá trong chum nước lên. Hai con cá diếc vẫn còn sống. Con to quẫy một cái làm nước bắn lên mu bàn tay hắn lạnh buốt.
Giang Triệt ngẩng đầu nhìn qua rặng tre và mấy mái nhà sàn thấp lè tè, nhìn về phía ngọn núi Bạch Lô xanh thẫm sau làng.
Hắn biết bên kia núi là Kính Hồ.
Nghe nói nước hồ trong như gương, cá lớn bằng chiếc thuyền con, sương trên mặt hồ bay như khói. Người ta còn nói đứng trên đỉnh núi nhìn xuống sẽ thấy tiên nhân cưỡi kiếm bay qua hồ, tà áo bay phần phật như cánh cò trắng.
Người ta cũng nói dưới đáy hồ có Long Vương.
Cha hắn đã chết ở đó.
Giang Triệt đứng nhìn một lúc lâu rồi cúi đầu, xách giỏ cá đi về phía chợ làng.
Sau lưng hắn, tiếng ho của bà lại vang lên rồi theo gió sớm bay đi xa.
Dưới gầm nhà sàn, chiếc thuyền nan mục vẫn nằm úp trong bóng tối, im lặng như đang ngủ.