LNCrawler

Ngư hộ

Câu Cá Thành Tiên — vtruyen.vn · All chapters

Ngư hộ

Ngư hộ.

Giang Triệt đứng yên tại chỗ, lặp lại hai chữ này trong đầu.

Hắn biết ngư hộ là gì. Người làng Bạch Lô ai cũng biết. Đó là những người phàm làm việc cho Thanh Lãng Tông ở bên bờ Kính Hồ. Họ chèo thuyền, thả lưới, cho cá ăn và cọ ao. Cá họ nuôi là cá của tiên nhân, họ không được ăn một miếng. Nhưng họ được ở bên hồ, được ăn cơm của tông và mỗi tháng được phát tiền công.

Ở làng chài này, làm ngư hộ là việc tốt nhất mà một người không có linh căn có thể mơ tới.

Cha hắn từng nói với hắn về ngư hộ. Lúc đó hắn còn rất nhỏ, chỉ nhớ cha nói một câu rất kỳ lạ.

“Ngư hộ à. Nhìn thì sướng, thật ra là nuôi cá cho người ta ăn, còn mình thì làm mồi.”

Hồi đó hắn không hiểu. Bây giờ cũng không hiểu.

“Sư huynh.”

Giang Triệt quay lại đi tới trước đài. Hắn chắp tay, cúi người thật thấp.

“Xin hỏi sư huynh, muốn làm ngư hộ thì phải làm thế nào ạ?”

Người đệ tử mặt tròn hơi bất ngờ. Có lẽ hắn chỉ tiện miệng nói một câu, không ngờ thằng nhóc áo vá này lại quay lại hỏi thật.

Hắn nhìn Giang Triệt từ đầu đến chân rồi hất cằm về phía góc quảng trường.

“Ngư hộ không phải việc của ta. Ngươi sang bên kia mà hỏi.”

Ở góc quảng trường gần gốc đa có kê một cái bàn nhỏ, trên bàn cắm một lá cờ vải màu lam. Trên lá cờ thêu hai chữ “Ngư Đường”. Sau bàn có hai người đàn ông trung niên mặc áo vải xám đang ngồi, trông giống người phàm.

Lúc nãy mọi người đều nhìn lên đài nên chẳng ai để ý đến cái bàn này.

Bây giờ cũng không có mấy ai để ý. Trước bàn chỉ lèo tèo vài ba người đứng hỏi chuyện.

“Đa tạ sư huynh.”

Giang Triệt lại cúi người cảm ơn một lần nữa rồi đi sang góc quảng trường. Mã Đại Lực vội vàng chạy theo.

“Triệt ca, mày định làm ngư hộ thật à?”

“Hỏi thử đã.”

“Nhưng mà Kính Hồ...” Mã Đại Lực ngập ngừng. “Cha mày chết ở Kính Hồ đấy.”

“Tao biết.”

Mã Đại Lực há miệng định nói gì đó nhưng lại thôi.

......

Trong hai người ngồi sau bàn, một người đang cúi đầu viết sổ. Người còn lại là một ông lão gầy, da đen sạm, râu lởm chởm như cỏ khô. Lão ngồi dựa lưng vào gốc đa, bên chân đặt một bình rượu nhỏ, mắt lim dim như đang ngủ.

Người viết sổ ngẩng lên nhìn hắn.

“Hỏi gì?”

“Dạ, cháu muốn làm ngư hộ.”

“Bao nhiêu tuổi?”

“Mười sáu ạ.”

“Biết bơi không?”

“Biết ạ. Cháu lớn lên ở làng chài, bơi qua sông Bạch Lô được hai lần không nghỉ.”

“Biết câu cá, đan lưới, chèo thuyền?”

“Biết cả ạ.”

Người kia gật gù rồi lật quyển sổ sang một trang mới.

“Ngư hộ Ngư Đường, mỗi tháng tiền công một lượng bạc. Ăn ở trong tông, người nhà được dựng nhà ở khu dưới chân núi. Hợp đồng mười năm, trong mười năm không được tự ý bỏ đi. Đồng ý thì nộp năm lượng bạc lễ nhập, ta ghi tên cho.”

Giang Triệt khựng lại.

“Năm lượng ạ?”

“Năm lượng.”

“Làm ngư hộ cũng phải nộp tiền ạ?”

Người viết sổ ngẩng đầu, nhìn hắn bằng ánh mắt như nhìn một thằng ngốc.

“Không nộp tiền thì ai cũng muốn làm, Ngư Đường lấy đâu ra chỗ cho từng ấy người? Năm lượng là lễ nhập. Lễ nhập là quy củ. Không có thì về.”

Giang Triệt đứng im.

Năm lượng là năm ngàn đồng.

Hắn câu cá mỗi sáng được ba bốn đồng. Còn phải nộp thuế mặt nước, còn phải mua gạo. Năm ngàn đồng thì có câu đến lúc tóc bạc cũng chưa chắc đã đủ.

“Đợt tuyển này đến bao giờ ạ?”

“Đến hết tháng. Hết tháng thì đợi năm sau.”

Hết tháng. Hôm nay đã là ngày mười một.

Giang Triệt mím môi.

“Cháu biết rồi. Đa tạ đại thúc.”

Hắn chắp tay định quay đi.

“Khoan.”

Người lên tiếng lại là ông lão ngồi dựa gốc đa. Lão vẫn lim dim mắt, giọng khàn khàn như mấy ngày chưa uống nước.

“Thằng nhóc. Mày tên gì?”

“Dạ, cháu là Giang Triệt.”

“Giang?” Ông lão hé mắt ra một chút. “Ở đâu?”

“Làng Bạch Lô ạ.”

Ông lão không nói gì nữa.

Lão mở hẳn mắt ra, nhìn hắn từ đầu đến chân. Lão nhìn lâu lắm, nhìn đến khi Giang Triệt cảm thấy không được tự nhiên. Ánh mắt lão dừng lại trên đôi bàn tay chai sạn vì dây câu của hắn. Rồi lão nhìn lên mặt hắn, nhất là đôi mắt.

Sau đó lão nhắm mắt lại, cầm bình rượu lên tu một ngụm.

“Đi đi. Không có gì.”

Giang Triệt ngẩn ra một chút, nhưng vẫn cúi người chào rồi rời đi.

Hắn đi được mấy bước thì nghe sau lưng có tiếng lão lẩm bẩm. Tiếng rất nhỏ, lẫn trong tiếng ồn của quảng trường, nghe không rõ.

Hình như là “giống thật”.

......

Hai người ra khỏi trấn thì đã quá trưa.

Mã Đại Lực đi bên cạnh, im lặng suốt nửa đường. Với một người lắm mồm như hắn thì đây là chuyện hiếm thấy.

Đi đến gốc gạo đầu đường làng, hắn đột ngột dừng lại.

“Triệt ca.”

“Hửm?”

“Cha tao có để dành ba lượng bạc.” Mã Đại Lực gãi đầu, mặt đỏ lên. “Để sau này cưới vợ cho tao. Tao về xin cha cho mày mượn. Mày thiếu hai lượng thì đi vay thêm ở đâu đó. Đến hết tháng kiểu gì cũng đủ.”

Giang Triệt nhìn bạn.

Cái mặt to như cái mâm kia vẫn đỏ bừng. Đôi mắt nhỏ xíu thì nhìn đi chỗ khác, không dám nhìn thẳng vào hắn.

Hắn biết ba lượng bạc đó. Nhà lò mổ đầu làng mổ heo mười mấy năm, chắt chiu từng đồng mới để ra được. Mẹ Đại Lực năm ngoái ốm nặng đến mức suýt chết cũng không dám đụng vào.

“Không cần.”

“Sao lại không cần? Mày không muốn làm ngư hộ à?”

“Muốn.” Giang Triệt cười. “Nhưng tiền cưới vợ của mày thì không được.”

“Tao chưa cưới vợ!”

“Thì sau này cưới.”

“Tao không cưới cũng được!”

“Mày không cưới thì mẹ mày đánh chết mày.”

Mã Đại Lực cứng họng.

Giang Triệt vỗ vai bạn một cái.

“Đại Lực, nghe tao nói này. Làm ngư hộ thì phải ở trong tông mười năm. Tao đi rồi thì bà tao ở nhà với ai?”

Mã Đại Lực ngẩn ra. Hắn chưa nghĩ đến chuyện này.

“Người nhà được dựng nhà dưới chân núi mà...”

“Bà tao không đi đâu.” Giang Triệt nói nhẹ nhàng. “Bà tao ghét Kính Hồ còn hơn ghét cái chết.”

Đây là câu thật lòng. Nhưng cũng chỉ là một nửa sự thật.

Nửa còn lại là năm lượng bạc lễ nhập kia. Có vay đủ thì cũng phải trả. Mỗi tháng tiền công một lượng thì trừ tiền trả nợ, chẳng còn lại bao nhiêu để mua thuốc cho bà. Hắn đã tính đi tính lại suốt dọc đường về. Tính cách nào cũng không đủ.

Mà kể cả đủ thì bà cũng không chờ được đến lúc đó.

Mã Đại Lực đứng im một lúc lâu. Sau đó hắn thở hắt ra một hơi rồi đá văng một hòn sỏi bên đường.

“Thôi, tùy mày. Nhưng bao giờ cần thì nói với tao. Tao không có tiền thì có sức. Gánh cá, chèo thuyền, đánh nhau, tao làm hết.”

“Biết rồi.”

“Đánh nhau là thật đấy. Thằng họ Tần kia mà còn dám nói mày là cá trong rổ thì tao...”

“Mày làm gì?”

“...Tao chửi nó.”

Giang Triệt bật cười thành tiếng. Mã Đại Lực cũng cười hề hề theo. Hai người đứng dưới gốc gạo cười một lúc như hai thằng ngốc. Nỗi bực bội cả buổi sáng hình như cũng vơi đi được một chút.

Đến đầu làng thì hai người tách ra. Mã Đại Lực về lò mổ. Giang Triệt không về nhà ngay mà rẽ vào con đường mòn dẫn lên sườn núi Bạch Lô.

Hắn muốn nhặt ít củi khô mang về cho bà. Hắn cũng muốn đi một mình một lúc.

......

Đường mòn lên núi rất hẹp, cỏ tranh mọc hai bên cao quá đầu gối. Giang Triệt nhặt củi suốt dọc đường, đến lúc bó củi trên vai đã nặng trĩu thì hắn cũng lên được đến một mỏm đá lưng chừng núi.

Từ chỗ này nhìn sang bên kia, có thể thấy được một góc Kính Hồ.

Hắn đặt bó củi xuống, ngồi lên mỏm đá.

Mặt trời đã ngả về tây. Dưới chân núi bên kia, Kính Hồ nằm trải dài như một tấm gương bạc khổng lồ. Mặt hồ phẳng lặng không một gợn sóng. Ánh nắng chiều chiếu xuống, cả mặt hồ lấp lánh như được rải một lớp vụn vàng.

Xa hơn nữa là Thanh Lãng Sơn chìm trong mây trắng. Thỉnh thoảng có một chấm sáng nhỏ từ trong mây bay ra, lướt qua mặt hồ rồi lại biến mất.

Đó là tiên nhân ngự kiếm.

Giang Triệt ngồi nhìn rất lâu.

Năm lượng bạc lễ nhập. Ba lượng bạc một hộp thuốc. Một lượng bạc tiền công.

Còn có năm màu sáng nhạt nhòa trên đá khảo, giãy mãi mà không lên được.

“Đổ nước vào rổ...”

Hắn lẩm bẩm. Rồi hắn tự cười một tiếng.

Tần Lãng nói đúng. Tạp linh căn là cái rổ. Linh khí đổ vào là chảy đi hết.

Nhưng cha hắn từng dạy, câu cá thì cái gì cũng có chỗ dùng. Rổ thủng không đựng được nước, nhưng đem nhúng xuống mương thì xúc được tép. Có khi xúc được cả cá.

Chỉ là hắn chưa biết mương của mình ở đâu.

Gió chiều thổi qua mỏm đá mang theo hơi nước lành lạnh. Giang Triệt đứng dậy, vác bó củi lên vai, định quay về.

Đúng lúc đó, ở rất xa phía giữa hồ, có thứ gì đó lóe lên.

Hắn dừng bước.

Một vệt đỏ.

Một con cá nhảy khỏi mặt nước. Thân nó cong lên thành một đường vòng cung đỏ thắm dưới nắng chiều. Vảy nó lóe sáng như một viên than hồng, rồi “tõm” một tiếng rơi trở lại mặt hồ.

Mặt hồ gợn lên một vòng sóng rất nhỏ. Rồi lại phẳng lặng như cũ.

Giang Triệt dụi mắt.

Khoảng cách xa như vậy thì một con cá chép to cũng chỉ bằng hạt gạo. Nhưng hắn thấy rất rõ. Màu đỏ đó không giống bất cứ con cá nào hắn từng thấy. Nó không phải màu đỏ của cá chép thường. Nó đỏ như máu, mà lại sáng như lửa.

Hắn đứng im chờ thêm rất lâu.

Mặt hồ không gợn lên thêm lần nào.

“Hoa mắt rồi.”

Giang Triệt lắc đầu tự nhủ. Cả ngày nay hắn chưa ăn gì, năm đồng tiền của bà vẫn nằm nguyên trong ngực áo. Đói quá thì hoa mắt cũng là chuyện thường.

Hắn quay người đi xuống núi.

Nhưng đi được mấy bước, hắn vẫn không nhịn được mà ngoái đầu nhìn lại thêm một lần.

Mặt trời lặn xuống sau Thanh Lãng Sơn. Kính Hồ tối dần đi, từ màu vàng chuyển sang màu bạc rồi sang màu chì.

Ở giữa hồ, ở đúng chỗ con cá đỏ vừa nhảy lên, có một chấm sáng rất nhỏ vẫn còn lập lòe dưới mặt nước.

Như một con mắt đang nhìn lên.