Rổ ổi của bác gái
Sáng Chủ nhật, ông Khang đưa cho Ngân một cái cân tiểu ly và bảo cô cân hai mươi thang thuốc bổ khí.
Phòng chẩn trị ngày Chủ nhật chỉ trực nửa buổi. Ngoài hiên, chị hộ lý vẫn ngồi quạt mấy cái bếp than. Trong phòng, những ngăn kéo gỗ dán nhãn giấy, chữ Hán và chữ quốc ngữ viết song song bằng mực tàu. Ngân đứng trước cái bàn dài, trải hai mươi tờ giấy bản thành hai hàng, bốc từng vị: hoàng kỳ, đẳng sâm, bạch truật, cam thảo, trần bì. Cân đĩa đồng đặt lệch thì quả cân lệch, cô phải chỉnh lại hai lần.
Ông Khang ngồi viết đơn, không ngẩng lên.
Gần trưa, khi đã gói xong thang cuối cùng, buộc lạt, ông mới nói, giọng vẫn chậm như đọc tên vị thuốc.
"Nghe nói tối qua dưới khu tập thể Hợp tác xã mua bán có người đọc sổ sách giữa sân."
Ngân đang buộc lạt, tay dừng lại.
"Thị xã nhỏ," ông Khang nói. Ông đẩy gọng kính lên, nhìn cô qua cái gọng đồi mồi sứt. "Đọc to thế thì người ta nhớ lâu. Cả người được đọc cho nghe."
Ông không nói gì thêm. Ông đưa cho cô hai thang thuốc của bố, gói riêng, ghi tên bằng bút chì, rồi gạch một dòng trong cuốn sổ bìa cứng: ba bó tía tô, hai bó ngải cứu, trừ vào tiền thuốc tuần này.
Ông Khang nói đúng. Người ta nhớ.
Sáng thứ Hai, Ngân vừa đến cổng kho thì chị Lệ đã đứng chờ ở cửa tổ thu mua, hai tay chống nạnh.
"Cá! Lại đây chị xem nào. Nghe bảo tối thứ Bảy em đứng giữa sân đọc sổ cho thằng say nghe, nó cứng họng, bảo vệ phải lôi đi?"
"Chị nghe ai nói ạ?"
"Cả cơ quan nói. Con Thoa bên kho kể từ sáng sớm, kể ba lần rồi, lần sau còn hay hơn lần trước." Chị Lệ cười, vỗ vai cô một cái đau điếng. "Giỏi. Nhưng lần sau có đứa cầm chai thì chạy. Không phải lúc nào cũng có bác Tấn."
Chú Nhạc ngồi trong góc, rít điếu thuốc lào, khói phun ra thành một cột đặc. Chú không nhìn Ngân, chỉ gõ gõ ngón tay lên cuốn sổ kế hoạch.
"Đọc sổ nhà mình thì giỏi rồi. Hôm nay đọc sổ giao nhận rau tuần trước cho tôi. Ai giao thiếu, thiếu mấy cân, ghi ra."
Ngân ngồi xuống, mở sổ. Cả buổi sáng hôm ấy, không ai nhắc lại chuyện tối thứ Bảy nữa. Cô thấy dễ chịu hơn.
Đến chiều, bà Lụa mang về một chuyện khác.
Bà đi chợ, gặp một người đàn bà làng Đông Lê gánh chuối lên bán. Người ấy kể, sáng Chủ nhật chú Bang về làng, mắt còn sưng, phải viết bản tường trình ở công an phường rồi mới được thả. Công an phường còn gửi giấy về xã. Cả làng biết chuyện chú say rượu lên thị xã làm loạn. Rồi cả làng biết luôn chuyện cuốn sổ, ba mươi sáu tháng, ba trăm sáu mươi đồng. Chẳng ai rõ ai kể. Chỉ biết là đến trưa thì bà Phượng không ra giếng làng gánh nước nữa, sai cháu ra gánh.
"Bà cụ nhà cháu sĩ diện lắm," bà Lụa nói, tay nhặt rau muống. "Bị người ta nói sau lưng thế còn khổ hơn bị đánh."
Ngân không biết nên thấy gì. Cô không định làm bà nội mất mặt. Cô chỉ định làm chú Bang im.
"Bà ơi, thế có phải cháu làm sai không ạ?"
Bà Lụa ngẩng lên, nhìn cô một lúc.
"Cháu không sai. Nhưng người mất mặt thì hay tìm cách lấy lại mặt. Cháu nhớ thế."
Thứ Hai cũng là ngày lĩnh gạo tháng Tám.
Ngân xếp hàng ở cửa hàng lương thực từ lúc bốn giờ sáng, trước khi đi làm. Đến lượt, chị bán hàng lật sổ, đánh dấu, rồi đẩy ra một bao.
"Tháng này gạo chỉ có hơn một phần ba thôi em. Còn lại bo bo với sắn lát. Tỉnh phân về thế."
Cả hàng người phía sau không ai ngạc nhiên. Có lẽ người ta đã nghe từ hôm trước.
Ngân vác bao về, đổ ra cái nong. Hạt bo bo tròn, cứng, màu nâu đỏ như hạt đậu non. Sắn lát trắng đục, mỏng, có mấy miếng đã lên mốc xanh ở mép. Gạo nằm riêng một túi, nhẹ tênh.
Mẹ đứng nhìn cái nong rất lâu.
"Bo bo phải ngâm một đêm, ninh hai tiếng mới nhừ," mẹ nói. "Bố mày không nuốt được bo bo."
"Gạo để riêng nấu cháo cho bố," Ngân nói. "Mình ăn bo bo."
Cô nói chắc như thế. Nhưng tối ấy, khi nhẩm lại, cô biết túi gạo kia không đủ cho bố đến cuối tháng, kể cả khi chỉ nấu cháo loãng.
Trên đường đi làm về, cô ghé chợ, mua một mớ rau muống to nhất của bà cụ bán rau ngoài cổng. Bà cụ còng lưng, ngồi ở chỗ cũ, không có lều. Bà không nhận ra cô. Ngân trả tiền, không mặc cả.
Tối ấy nhà ăn rau muống luộc chấm muối, nước luộc vắt chanh cho bố. Phần gốc rau, Ngân không vứt. Cô nhặt riêng từng đoạn còn mấu rễ, ngâm vào chậu nước.
Nửa đêm, cô mang chúng vào vườn, cắm xuống một khoảnh đất trũng cạnh giếng, chỗ nước tràn ra khi cô múc. Ba gáo nước giếng vẫn để cho bố và cho luống thuốc. Rau muống, cô tưới bằng nước máy xách vào trong cái ca nhôm, đi hai chuyến.
Rau muống ăn nước. Ở vườn này, cô đoán, nó sẽ ăn nhanh hơn.
Thứ Ba, bác gái Cúc lên thị xã.
Ngân không thấy bác. Mẹ thấy.
Tối thứ Ba, mẹ về muộn, xách theo một cái rổ con, trên phủ lá chuối. Mẹ đặt rổ lên bàn, giở lá ra. Mấy củ khoai lang vỏ đỏ còn dính đất. Một chục quả ổi găng, vỏ xanh lấm tấm, thơm nức cả phòng.
Sơn reo lên, chộp ngay một quả, cắn một miếng to.
"Ổi ở đâu thế mẹ?"
"Bác Cúc mang lên cho." Mẹ ngồi xuống ghế, tháo cái khăn quấn đầu ra, xoa gáy. "Bác lên tận kho tìm mẹ. Ngồi chờ từ trưa."
Ngân đang rửa bát ở chậu, quay lại.
Mẹ kể. Chậm, rời rạc, như người kể một giấc mơ vừa mơ.
Bác Cúc không nhắc chuyện cái suất. Không nhắc chuyện chú Bang. Bác chỉ hỏi han bố, hỏi han mẹ, hỏi sao mẹ gầy thế. Bác bảo bà nội dạo này ốm, nằm suốt, ăn không được, cứ nhắc thằng Thành. Bác bảo trong họ có người nói nặng nói nhẹ, nhưng bác thì bác hiểu, đàn bà với nhau, một mình nuôi chồng ốm khổ thế nào.
Rồi bác nói đến Sơn.
"Bác bảo để bác đón cu Sơn về quê ở một thời gian," mẹ nói. "Đến khi bố mày khỏe. Ở dưới ấy có khoai, có sắn, có ao cá, có cái Huyền nhà bác trông. Sang năm học thì cho học trường làng, đằng nào cũng gần nhà bà. Bác bảo thằng bé gầy thế kia, ở trên này ăn bo bo mãi thì còi."
Sơn ngừng nhai.
"Về quê ạ? Có ao à mẹ? Ao to không?"
"To," mẹ nói. "Ngày bé bố mày toàn bơi ở đấy."
Thằng bé nhìn quả ổi trong tay, rồi nhìn sang tấm rèm hoa. Nó không nói gì nữa.
"Mẹ đồng ý rồi à?" Ngân hỏi.
"Mẹ chưa." Mẹ lắc đầu. "Mẹ bảo để mẹ nghĩ. Bác bảo tuần sau bác lên."
Mẹ ngồi im một lúc, rồi nói, giọng rất nhỏ, như nói một mình.
"Tuần này kho kiểm kê đầu tháng, mẹ phải làm ca đôi. Con thì đi làm. Thằng Sơn ở nhà một mình với bố từ sáng đến tối. Hôm qua nó ăn trưa bằng nắm sắn luộc nguội. Hôm kia nó trèo lên lan can nhặt quả bóng. Mẹ đi làm mà cứ thấp thỏm." Mẹ đưa tay lên day hai mắt. "Bác Cúc nói khó nghe thì khó nghe, nhưng có khi bác nói đúng."
Ngân không trả lời.
Cô lau khô cái bát cuối cùng, úp lên giá. Cô cầm một quả ổi, gọt vỏ bằng con dao nhỏ, chia làm bốn, đưa cho mẹ một miếng. Mẹ cầm, không ăn.
Đêm ấy Ngân không vào vườn ngay khi đồng hồ nhà bà Lụa điểm mười hai tiếng.
Cô nằm nhìn trần nhà, nghĩ về bác Cúc.
Một người đàn bà tuần trước còn xách cái làn cói rỗng lên đòi suất, hôm nay xách rổ ổi lên hỏi han. Một bà nội ba tháng chưa lên thăm con trai lấy một lần, hôm nay ốm, nằm nhắc thằng Thành. Một nhà vừa bị cả làng nói sau lưng, vừa mất mặt, hôm nay tự nhiên thương thằng cháu gầy.
Cô nhớ câu của bà Lụa. Người mất mặt thì hay tìm cách lấy lại mặt.
Cô nghĩ, nếu Sơn về quê. Ở với bà, với bác. Đi học trường làng. Vài tháng, có khi vài năm. Rồi một ngày, cả làng sẽ nói con Mai không nuôi nổi con, phải gửi về nhà nội. Rồi một ngày, bà nội lại mang tờ giấy nhường suất lên, và lần này bên cạnh bà có thằng Sơn. Mẹ không ký thì mẹ có dám đón con về không. Đón về thì lấy gì nuôi. Mẹ sẽ ký.
Một đứa trẻ bảy tuổi. Đặt ở đâu thì người lớn ở đấy được nói.
Ở kiếp trước, trong trại trẻ, cô đã thấy nhiều đứa được họ hàng đến "đón về nuôi hộ". Có đứa đi rồi không bao giờ quay lại. Có đứa quay lại sau một năm, gầy hơn, ít nói hơn, hai bàn tay chai như tay người lớn. Bao giờ người đến đón cũng mang quà. Bao giờ cũng cười.
Cô quay sang nhìn Sơn. Thằng bé ngủ say, miệng còn thơm mùi ổi, một tay vẫn nắm quả bóng lá chuối đã tết lại lần thứ ba.
Ngân biết mình nên nói với mẹ điều này. Nói rõ ràng, đầy đủ, như cô vừa nghĩ.
Nhưng mẹ đang mệt. Mẹ làm ca đôi cả tuần. Mẹ vừa qua một tối đứng ở lan can nghe người ta chửi mình giữa sân. Mẹ thương bác Cúc theo cái kiểu người hiền vẫn thương những người nói ngọt với mình. Nếu cô nói, mẹ sẽ hỏi con có chắc không. Rồi mẹ sẽ lo. Rồi mẹ sẽ khóc.
Cô tự lo được. Cô vẫn luôn tự lo được.
Còn một tuần. Trong một tuần, cô sẽ tìm ra cách để Sơn không phải ở nhà một mình từ sáng đến tối, để thằng bé không phải ăn sắn nguội, để mẹ không còn cớ gì mà gật đầu.
Cô nhắm mắt, nghĩ đến màu xanh lá non.
Trong vườn, cạnh giếng, chỗ đất trũng, những đoạn gốc rau muống cắm hôm qua đã nhú lên những ngọn non xanh mởn, dài gần một đốt tay, lá hình mũi mác cuộn tròn ở đầu.
Ngân ngồi xổm xuống, nhìn chúng rất lâu.
Rồi cô đứng dậy, múc gáo nước đầu tiên, đổ vào ca. Trong đầu cô bắt đầu có một con số. Bao nhiêu mớ rau muống thì đổi được một bơ gạo.
Cô không viết con số ấy vào vở. Cô cũng không kể cho ai.