Cái mạng của người thu mua
Một tiếng sau, đến lượt công văn chính thức về tới tổ thu mua.
Nó nằm trong một phong bì giấy xi măng, dán bằng hồ cơm, ngoài đề *Kính gửi Ban chủ nhiệm Hợp tác xã mua bán thị xã Văn Hà*. Chị Lệ là người bóc. Chị đọc một lượt, mặt đỏ dần từ cổ lên, rồi đập tờ giấy xuống mặt bàn gỗ đúng chỗ Ngân đang chép bảng kê.
"Em đọc đi."
Ngân không cần đọc hết. Cô thấy tên mình ở dòng thứ ba, viết tay, nét chữ to và nghiêng. *Lê Ngọc Ngân, 15 tuổi, khai là lao động hợp đồng tạm thời tại tổ thu mua.* Rồi đến dòng *trao đổi lương thực ngoài kế hoạch tại chợ Văn Hà sáng ngày 6 tháng 8*. Rồi số tiền phạt. Rồi câu cuối cùng: *Đề nghị cơ quan chủ quản giáo dục.*
Sáng nay, lúc người của đội quản lý thị trường hỏi làm ở đâu, cô đã khai thật. Cô nghĩ khai thật thì người ta nhẹ tay. Cô không nghĩ người ta sẽ viết thư.
"Em xin lỗi chị."
"Xin lỗi chị làm gì." Chị Lệ ngồi phịch xuống ghế đối diện, cầm cái quạt nan quạt lấy quạt để. "Chị có bị phạt đâu. Em xin lỗi chú Nhạc ấy. Chú ký biên bản kèm cặp cho em, giấy này ông Cường đọc rồi mới chuyển xuống đây. Em hiểu không?"
Ngân hiểu. Cô cúi xuống, gấp tờ giấy làm tư, rồi lại mở ra. Ngoài cửa sổ, nắng đã gắt, chiếu lên mấy dãy bao tải xếp ngoài sân kho.
Chú Nhạc vẫn ở dưới kho muối, từ lúc gấp bản sao biên bản bỏ túi.
Đến trưa chú mới về. Chú không hỏi gì, chỉ cầm tờ công văn trên bàn lên đọc, đọc xong gấp lại bỏ túi áo, cùng chỗ với tờ kia, rồi hất cằm về phía cửa sau.
"Ra đây."
Hiên kho phía sau là chỗ chú Nhạc hay ngồi hút thuốc. Ở đó có một cái ghế đẩu chân đã lung lay, một cái điếu cày ống nứa dựng vào cột, một chiếc ấm tích sứt vòi. Mùi kho đi theo ra tận hiên: mùi muối ẩm, mùi cá khô, mùi dầu hỏa, mùi bao đay cũ.
Chú ngồi xuống ghế. Ngân đứng.
Chú nhồi thuốc vào nõ, châm lửa, rít một hơi dài. Tiếng điếu kêu rót rót như nước sôi. Chú ngửa cổ, nhả khói ra từ từ, mắt nhìn lên mái tôn.
"Gánh sáng nay có những gì?"
"Dạ, rau muống, rau mùi, tía tô, với một mớ kinh giới ạ."
"Đổi được bao nhiêu gạo?"
"Dạ, chưa đổi được ạ. Bà hàng vừa đổ gạo ra cân thì người ta đến."
Chú Nhạc gật gật, như thể điều ấy chẳng có gì lạ. "Thế mày nghĩ mày sai ở đâu?"
Ngân im một lúc. Cô đã nghĩ câu ấy cả đêm qua, nằm trên giường tre, nghe tiếng Sơn thở.
"Cháu nghĩ không bán lấy tiền thì không phải buôn bán. Cháu nghĩ rau là của nhà, mang đổi thì không sao."
"Ừ." Chú gõ cái điếu xuống sàn xi măng cho tàn rơi ra. "Thế bây giờ tao dạy mày. Mày nghe cho kỹ, tao nói một lần."
Chú giơ một ngón tay lên.
"Hàng kế hoạch. Là cái Nhà nước giao. Thóc, lợn, đỗ, lạc, sắn, các hợp tác xã nông nghiệp phải bán đủ chỉ tiêu, theo giá chỉ đạo. Cơ quan mình đi thu cái ấy. Có sổ, có chỉ tiêu, có ngày giờ. Thiếu một tạ là cả xã bị gọi lên huyện."
Ngón tay thứ hai.
"Hàng ngoài kế hoạch. Là cái họ làm ra dư ra, ngoài chỉ tiêu. Cái ấy mình được mua theo giá thỏa thuận. Nhưng mà mua qua cơ quan, có giấy, có biên bản, có chữ ký hai bên. Không phải ra chợ ai muốn đổi gì thì đổi."
Ngón tay thứ ba.
"Hợp đồng hai chiều. Mình bán cho họ phân đạm, dầu hỏa, xà phòng, vải màn, đinh, cuốc. Họ bán lại cho mình thóc, lợn, rau. Hai bên ký với nhau từ đầu vụ. Mày đi Bến Gạo với cái Lệ tuần rồi, mày thấy ông chủ nhiệm bên ấy cười với cái Lệ thế nào chưa? Ông ấy cười vì ông ấy còn chờ ba phi dầu hỏa của mình. Không có hợp đồng hai chiều thì ông ấy không cười đâu."
"Còn gạo," chú nói, giọng chậm hẳn lại. "Gạo là lương thực. Lương thực thì Nhà nước quản. Mua bán, chở chuyên, cất giữ quá mức là có tội. Mày mang rau ra đổi gạo, người ta không gọi là đổi. Người ta gọi là phân tán lương thực. Hiểu chưa?"
"Dạ, cháu hiểu rồi ạ."
"Mày chưa hiểu đâu." Chú thò tay vào túi áo ngực, lấy ra một cái gói ni-lông gấp vuông, buộc dây chun. Chú mở ra. Bên trong là một tờ giấy đánh máy, có dấu đỏ, mép đã sờn. "Đây là cái gì?"
"Giấy giới thiệu ạ."
"Đây là cái mạng của tao." Chú giơ tờ giấy lên trước mặt cô. "Người thu mua đi đường, gặp trạm kiểm soát, người ta không hỏi mày là ai. Người ta hỏi giấy đâu. Có giấy thì xe sắn ấy là của cơ quan. Không có giấy thì xe sắn ấy là của con buôn. Cùng một xe sắn."
Chú gói tờ giấy lại, cẩn thận như gói một miếng vàng, cất vào túi, cài cúc.
"Năm sáu tám, tao có thằng bạn cùng tổ. Thằng Hưng. Đi Phú Thọ thu sắn về, dọc đường nghỉ ăn bát phở, đánh rơi cái giấy giới thiệu ở quán. Đến trạm Phong Châu bị giữ cả xe. Ngồi trạm ba ngày ba đêm, cơ quan gửi công văn xuống mới cho về. Thằng Hưng bị kỷ luật, chuyển sang bán hàng ở cửa hàng huyện, đến giờ vẫn ở đấy."
Ngân nhìn xuống chân. Sàn xi măng nứt một đường chạy dài đến chân cột.
"Mày khôn," chú Nhạc nói. "Tao biết mày khôn. Mày tìm ra chỗ cộng sai trong sổ kế hoạch quý Ba mà thằng kế toán ngồi cả tháng không thấy. Nhưng khôn kiểu ấy ở đây chưa đủ. Ở đây phải biết đường đi của tờ giấy. Hàng đi đường nào, giấy đi đường ấy. Hàng đi trước giấy là hàng lậu."
Chú lại nhồi một mồi thuốc, nhưng không châm ngay.
"Tên mày bây giờ nằm trong sổ của đội quản lý thị trường rồi. Lần sau nó không phạt năm đồng đâu. Lần sau nó gửi giấy lên công an thị xã, rồi cái biên bản thử việc của mày, tao ký, cũng thành giấy lộn."
"Cháu biết rồi ạ."
"Tao ký kèm cặp mày," chú nói, mắt vẫn nhìn mái tôn. "Mày làm sai thì tao chịu. Tao già rồi, tao chịu cũng được. Nhưng mày làm sai lần nữa thì mày tự đi mà chịu. Thôi, vào làm đi."
Chú châm lửa. Tiếng điếu lại kêu rót rót.
Ngân đứng thêm một lúc. Cô muốn nói một câu gì đó cho đàng hoàng, một câu cảm ơn cho đúng. Nhưng chú Nhạc đã quay mặt đi, khói thuốc mù cả một góc hiên.
Cô đi vào.
Cả buổi chiều, cô ngồi chép lại bảng kê hàng hợp đồng hai chiều với Bến Gạo. Cột bên trái là thứ mình bán: phân đạm, dầu hỏa, xà phòng bánh, vải màn. Cột bên phải là thứ họ phải giao: thóc, đỗ xanh, rau muống, khoai lang. Giữa hai cột là giá chỉ đạo, ghi bằng mực đỏ.
Cô chép rất chậm.
Ở kiếp trước, cô đứng quầy thuốc mười năm. Cô biết hàng nào bán chạy theo mùa, biết khi nào nhập, nhập bao nhiêu, biết người ta trả giá thế nào, biết lúc nào nên bớt cho bà cụ nghèo một ít. Cô đã nghĩ những thứ ấy là vốn của mình. Một thứ vốn người thời này không có.
Bây giờ cô mới thấy, vốn ấy đặt ở đây giống như đem tờ tiền của một nước khác ra chợ. Tờ tiền thật. Nhưng không ai nhận.
Ở đây, giá không do người mua người bán quyết. Giá do tờ giấy quyết. Đường đi của hàng không do chỗ nào cần thì đến. Nó đi theo con dấu.
Cô viết một dòng vào lề tờ giấy nháp, bằng bút chì, rất nhỏ: *Hàng đi đường nào, giấy đi đường ấy.* Rồi cô lấy tẩy xóa đi, vì đây là giấy của cơ quan.
Chị Lệ đi qua bàn, liếc xuống, không nói gì. Một lúc sau chị quay lại, đặt xuống cạnh khuỷu tay cô một củ khoai lang luộc còn ấm, bóc sẵn một nửa vỏ.
"Ăn đi. Mặt cứ như đưa đám."
Tối hôm ấy mẹ về lúc tám giờ.
Ngân đã nấu xong cơm. Cơm độn khoai, một đĩa rau muống luộc, một bát nước rau vắt chanh, một ít lạc rang giã muối. Bố đã được ăn cháo, lau người, trở mình. Sơn đã tắm, ngồi bên cửa sổ tết dở một quả bóng lá chuối mới.
Cả nhà ăn cơm. Sơn kể chuyện thằng Tùng nhà chị Thoa đá bóng vỡ kính cửa sổ tầng hai. Ngân nghe, gắp rau cho mẹ.
Đến khi Sơn đã ngủ, cô mới lấy hộp sắt ra.
Dưới mấy tờ một hào, hai hào, cái kẹp tóc vẫn nằm đó, kẹp không. Tờ năm đồng mẹ để dành trả bà Lụa không còn nữa.
Cô đặt cái kẹp tóc lên bàn, cạnh tờ biên lai phạt.
Ở kiếp trước, cô sai thì tự sửa, thiếu thì tự bù. Không có ai để kể, nên cũng chẳng có ai để giấu. Cái thói ấy theo cô sang đây. Sáng nay, lúc rút tờ năm đồng ra khỏi cái kẹp tóc, cô đã định trong hai tuần sẽ tìm cách bù lại, rồi mẹ sẽ không bao giờ biết.
"Mẹ," cô nói. "Con có chuyện phải nói với mẹ."
Rồi cô kể. Kể hết. Gánh rau, bà hàng gạo, người đội quản lý thị trường đeo băng đỏ, đôi quang gánh bị tịch thu cùng với rau, năm đồng, tên cô trong sổ, tờ giấy báo về cơ quan, chú Nhạc ở hiên kho.
Cô không kể rau ở đâu ra. Mẹ chỉ biết cô trồng mấy chậu ở ban công và có người quen cho thêm.
Mẹ nghe hết, không ngắt lời.
Rồi mẹ cầm tờ biên lai lên, đọc, đặt xuống. Mẹ cầm cái kẹp tóc lên, nhìn, đặt xuống.
Ngân chờ. Cô đã chuẩn bị để bị mắng. Cô thấy bị mắng thì dễ chịu hơn.
"Sao con không về nói với mẹ ngay?" mẹ hỏi. Giọng không to.
"Con định tự bù lại rồi mới nói."
Mẹ nhìn cô rất lâu.
"Cá ạ," mẹ nói. "Mẹ biết con thương mẹ. Nhưng con giấu thì mẹ sợ hơn. Năm đồng mất thì thôi. Mẹ sợ một hôm nào đấy con bị người ta bắt, mà mẹ là người cuối cùng biết."
Ngân không nói gì được.
Mẹ kéo cái ghế đẩu lại gần, rút trong túi áo ra cây bút chì cụt. "Đưa vở đây. Hai mẹ con tính."
Họ tính dưới ánh đèn dầu, vì điện khu tập thể bị cắt từ chín giờ.
Lương mẹ tháng Tám: ba mươi tám đồng, trừ mười đồng trả tạm ứng, còn hai mươi tám. Tiền thuốc bệnh viện của bố: hai mươi đồng, để riêng trong phong bì, không được động vào. Nợ bà Lụa: năm đồng, tờ để dành đã mất, mẹ hẹn bà trả trước rằm tháng Bảy. Hai thang thuốc bổ mỗi tuần thì ông Khang vẫn trừ vào rau thơm. Gạo theo sổ thì đã mua được nửa tháng.
Ngân viết từng dòng. Mẹ thêm tiền dầu thắp, tiền xà phòng.
"Còn lương hợp đồng của con," mẹ nói. "Bao giờ lĩnh?"
"Cuối tháng ạ. Chú Nhạc bảo tính theo ngày công."
"Thế thì cuối tháng con lĩnh lương, trả bà Lụa trước tiên." Mẹ khoanh tròn hai con số. "Trong hai tuần này, nhà mình nhịn đường. Mẹ bớt ăn sáng ở cơ quan."
"Mẹ không bớt. Con bớt."
"Mẹ là mẹ," mẹ nói, và lần đầu tiên trong buổi tối, mẹ cười. "Mẹ bớt."
Ngân nhìn trang vở. Những con số không đẹp hơn chút nào. Nhưng chúng nằm ở đấy, trên giấy, giữa hai mẹ con, chứ không nằm trong đầu một mình cô.
Cô thấy ngực mình nhẹ đi, một cái nhẹ cô chưa từng biết.
Rồi cô nghĩ đến một chuyện khác. Nếu đã nói, thì nói luôn.
"Mẹ ạ. Chuyện bác Cúc."
Mẹ đặt bút xuống.
"Hôm thứ Ba bác ấy lên kho, mẹ kể là bác ấy bảo đón cu Sơn về quê nuôi hộ. Mẹ trả lời bác ấy thế nào?"
"Mẹ bảo để mẹ nghĩ." Mẹ xoa hai bàn tay vào nhau. "Bác ấy nói cũng phải con ạ. Về quê có cá, có khoai, có ruộng. Thằng bé gầy quá. Mẹ đi ca suốt, con thì đi làm. Ở nhà nó với bố, cả ngày..."
"Mẹ," Ngân nói khẽ. "Bác Cúc với bà đang muốn cái suất của bố. Thằng Sơn về dưới ấy rồi, mẹ còn dám không ký không?"
Mẹ im lặng.
Ngọn đèn dầu kêu lép bép. Bên kia tấm rèm, bố thở chậm và dài.
"Mẹ cũng nghĩ thế," mẹ nói, rất lâu sau. "Đêm hôm ấy mẹ nằm, mẹ cũng nghĩ thế. Nhưng mẹ mệt quá Cá ạ. Mẹ cứ muốn tin là người ta tốt. Tin thế cho đỡ mệt."
Ngân nắm lấy tay mẹ. Bàn tay mẹ ráp, có mùi muối.
"Chủ nhật bác ấy lên chợ thị xã," mẹ nói. "Mẹ sẽ nói với bác ấy là không."
Nửa đêm, khi đồng hồ quả lắc nhà bà Lụa đánh mười hai tiếng, Ngân đeo chiếc Poljot lên cổ tay và vào vườn.
Cô múc gáo thứ nhất cho cháo sáng của bố. Gáo thứ hai tưới luống ngải cứu đã cao đến bắp chân. Gáo thứ ba, như mọi đêm, cô mang ra sau giếng, tưới quanh gốc sâm. Cây vẫn ba lá kép. Vẫn cao một gang tay. Cô không bới.
Cô ngồi trên chõng tre trong gian bếp lá cọ, nhìn những luống rau xanh đến chói mắt.
Mảnh vườn này cho cô rau. Nhưng mảnh vườn không cho cô tờ giấy có con dấu. Thứ ấy phải đi xin ở ngoài kia, theo đường của ngoài kia.
Mười hai giờ hai mươi phút, cô ra.
Cô mở vở "Luật của vườn", lật sang một trang mới, và viết một tiêu đề khác.
*Luật của ngoài kia.*
*1. Hàng đi đường nào, giấy đi đường ấy.*
Cô nhìn dòng chữ một lúc. Rồi cô viết thêm:
*2. Có chuyện thì nói với mẹ.*
Ngoài trời, gió đổi hướng, lùa qua khe cửa sổ một mùi bùn ruộng.
Còn hai ngày nữa mới đến Chủ nhật. Cô nghĩ hai ngày thì chẳng có gì xảy ra được.