Đêm mái tôn bay
Ngân không trả lời ngay.
Cô đứng trước bàn ông Cường, hai tay buông thõng, nghe gió đập cành xoan vào cửa kính lần thứ hai, lần thứ ba. Câu "cháu dám" đã lên đến cổ. Một tháng trước, cô sẽ nói ra không cần nghĩ. Cô biết đi tàu, biết đọc hợp đồng, biết tính. Cô biết bếp tập thể còn năm ngày gạo. Mọi thứ đều chỉ về một phía.
Nhưng trong ngăn kéo ở nhà có một trang vở, dòng thứ hai.
"Thưa chú," cô nói. "Cháu xin về hỏi mẹ cháu. Sáng mai cháu trả lời chú."
Ông Cường nhướng mắt. Ông nhìn cô như nhìn một cột số cộng ra kết quả khác với ông tưởng.
"Ừ," ông nói, sau một lúc. "Thế cũng phải. Về đi. Về chèn cửa cho mẹ. Đêm nay to đấy."
Lúc cô ra đến cửa, ông nói thêm, không ngẩng lên:
"Ông Nhạc không đi một mình được nữa đâu. Lưng ông ấy hỏng rồi. Ông ấy không nói với ai, nhưng tôi biết."
Cô đạp xe về trong gió.
Gió thổi ngang, đẩy chiếc xe đạp cà tàng của chị Lệ cho mượn chệch sang lề hai lần. Bụi đỏ quất vào mặt rát như cát. Trên đường, người ta đang khiêng chum vại vào nhà, đóng cửa liếp, buộc mái rạ bằng dây thừng dằn đá. Cửa hàng mậu dịch đầu phố đã sập cửa, tấm biển gỗ ghi giờ bán hàng đập vào tường lạch cạch.
Hành lang tầng ba tối om. Điện cắt từ sớm. Các nhà đã dọn hết nồi niêu ở bếp chung vào phòng. Bà Lụa đứng ở cửa phòng mình, tay che một nén hương đang cháy dở.
"Rằm tháng Bảy," bà nói khi thấy Ngân. "Định thắp cho ông nhà tôi nén hương, mà gió thế này, cắm đâu cũng tắt."
Ngân đứng lại một giây. Cô nhớ ra hôm nay là rằm. Cái rằm mẹ hẹn trả bà năm đồng.
Bà Lụa như đọc được ý cô. "Đừng có nghĩ chuyện ấy. Vào chèn cửa đi."
Mẹ đã về trước. Mẹ đang đứng trên ghế đẩu, nhét giẻ vào khe cửa sổ. Sơn đứng dưới, hai tay giữ chân ghế, mặt nghiêm như đang làm việc lớn. Ngọn đèn dầu đặt dưới gầm bàn cho khỏi gió.
Ngân cởi túi vải, lao vào làm cùng. Cô kéo cái hòm gỗ chặn chân cửa ra vào. Cô lấy tấm ni-lông che lên bàn thờ nhỏ trên nóc tủ. Cô kéo giường bố ra xa cửa sổ thêm một gang tay, rồi lấy chăn bông gấp đôi, chèn quanh đầu giường.
Mạch bố bảy mươi. Ông vẫn nằm yên. Nhưng lông mày hơi chau, như hôm bác Cúc lên.
"Bố nghe thấy gió đấy," Sơn nói.
"Ừ. Em nói với bố đi. Nói là nhà mình chèn cửa rồi."
Thằng bé cúi xuống sát tai bố, nói rất khẽ. Ngân không nghe được nó nói gì.
Khoảng mười giờ đêm, bão vào thật.
Đầu tiên là một tiếng hú dài, như có ai thổi vào một cái ống to. Rồi mưa. Mưa không rơi, mà bị ném vào tường từng mảng. Cửa sổ rung bần bật trong khung. Nước rỉ qua khe giẻ, chảy thành dòng xuống tường vôi, loang ra sàn.
Rồi đến cái tiếng mà cả dãy nhà nhớ mãi về sau.
Nó bắt đầu bằng một tiếng ken két, kéo dài, như đinh bị nhổ khỏi gỗ. Rồi một tiếng rầm. Rồi tiếng tôn đập xuống đất ở đâu đó dưới sân, loảng xoảng, lăn đi, lại đập.
Mái tôn bếp chung đã bay.
Cả hành lang thức dậy. Người ta không mở cửa được, chỉ gọi nhau qua vách. "Nhà Hiền có sao không?" "Không sao!" "Bà Lụa ơi!" "Tôi đây!" Có tiếng trẻ con khóc ở cuối dãy. Có tiếng đàn ông chửi thề rồi tiếng đàn bà mắng át đi.
Sơn chui vào giữa mẹ và Ngân, ngồi bó gối trên giường tre. Nó không khóc. Nó chỉ cầm chặt quả bóng lá chuối.
Ba mẹ con ngồi như thế dưới ngọn đèn dầu. Ngoài kia, gió vẫn thổi.
Ngân biết mình phải nói lúc này. Không phải sáng mai. Sáng mai cô sẽ có một lý do khác để hoãn, và rồi cô sẽ tự quyết như mọi lần.
"Mẹ," cô nói. "Chiều nay ông Cường gọi con lên."
Mẹ quay sang. Ngọn đèn dưới gầm bàn chiếu ngược lên, làm mặt mẹ trông già hơn.
Ngân kể. Bếp tập thể còn năm ngày gạo. Chuyến gạo điều kẹt ở Phủ Lý. Hợp tác xã nông nghiệp trong Thanh nợ thóc từ tháng Năm. Chú Nhạc đi, cần người tính sổ. Ông Cường hỏi cô có dám đi không.
Cô không kể cô đã trả lời thế nào. Cô chỉ nói:
"Con chưa trả lời ông ấy. Con bảo con về hỏi mẹ."
Mẹ im lâu đến mức Ngân tưởng mẹ không nghe thấy.
"Đi bao lâu?"
"Con không biết. Chú Nhạc bảo đòi được thì nhanh. Không được thì lâu. Chắc mười ngày."
"Vào Thanh xa lắm." Mẹ nói, rồi lại im. "Ngày trước bố mày chạy đường ấy suốt. Có lần mẹ đợi ở cổng cơ quan ba ngày không thấy xe về."
Gió giật một cơn, cánh cửa sổ kêu răng rắc.
"Con muốn đi không?" mẹ hỏi.
Ngân định nói "con đi được". Nhưng câu mẹ hỏi không phải thế.
"Con muốn," cô nói. "Con sợ, nhưng con muốn. Bếp tập thể ba trăm người ăn. Mẹ cũng ăn ở đấy."
"Thế còn bố?"
Đây là câu Ngân sợ nhất. Cô đã định sẵn trong đầu cả một bảng phân công: giờ nào ai trở mình cho bố, ai lau người, ai nấu cháo. Cô cắn môi, giữ nó lại.
"Con không biết, mẹ ạ. Con hỏi mẹ."
Mẹ nhìn cô. Rồi mẹ cười, một nụ cười mệt nhưng thật.
"Lần đầu tiên con hỏi mẹ câu ấy."
Mẹ với lấy cây bút chì cụt trong túi áo, xé một tờ lịch cũ, lật mặt sau.
"Sáng mẹ đổi sang ca sáng cả tuần, chị Thoa chịu cho. Trưa mẹ về cho bố ăn. Chiều thằng Sơn trông bố, bà Lụa sang ngồi cùng." Mẹ viết, nét chữ to và vụng. "Tối thứ Năm, tối thứ Hai ông Khang đến thì mẹ ở nhà. Xoa bóp thì mẹ làm. Con dạy lại mẹ cách con làm hai bàn chân."
"Con dạy em nữa," Sơn nói, giọng ngái ngủ. "Em làm được."
"Ừ, dạy cả em," mẹ nói. Rồi mẹ quay sang Ngân. "Còn con thì đi."
Ngân cúi xuống. Cô không muốn ai thấy mắt cô lúc ấy.
Ngoài sân, một tấm tôn nữa bị gió nhấc lên, đập vào bức tường kho, rền như sấm.
Gần sáng gió mới ngớt.
Bảy giờ, khu tập thể ra sân nhìn. Hai tấm tôn bếp chung nằm vắt trên dây phơi, méo như giấy bị vò. Cây xoan đầu hồi đổ ngang, rễ bật lên một tảng đất to bằng cái nong. Sân ngập đến mắt cá chân, nước đỏ quạch, trôi lềnh bềnh lá, rác, một chiếc dép trẻ con, một cái rổ thủng. Trên tầng hai, kính cửa sổ nhà ai vỡ mất một ô.
Đàn ông xắn quần lội ra, khiêng tôn, chặt cành. Đàn bà quét nước. Không ai bảo ai.
Ngân lội nước đến Hợp tác xã. Sân kho cũng ngập. Mấy chú bảo vệ đang tát nước ở cửa kho gạo trống, vừa tát vừa cười, vì kho có còn gạo đâu mà sợ ướt.
Ông Cường ngồi trong phòng, quần xắn tới gối, chân đi ủng cao su. Chú Nhạc ngồi ghế đối diện, một tay chống vào thắt lưng.
"Mẹ cháu bảo sao?" ông Cường hỏi.
"Mẹ cháu bảo cháu đi ạ."
Chú Nhạc khịt mũi một tiếng. Ngân không biết đấy là cười hay không.
Cả buổi sáng hôm ấy, chú Nhạc dạy cô làm giấy.
Chú trải ra mặt bàn: bản chính hợp đồng hai chiều ký từ tháng Giêng giữa Hợp tác xã mua bán Văn Hà và Hợp tác xã nông nghiệp Yên Trường, huyện Thạch Lương, tỉnh Thanh Hóa. Hai biên bản giao hàng hồi tháng Hai, có chữ ký người nhận bên kia. Ba lá thư đòi nợ đã gửi, cùng hai lá thư trả lời, lá nào cũng có câu "đề nghị quý cơ quan thông cảm".
"Bản chính không mang đi," chú nói. "Mất bản chính là mất cả. Mày chép hai bản, mang sang Ủy ban thị xã xin dấu sao y."
Ngân chép. Chép xong bản thứ nhất, chú đọc, chỉ ra hai chỗ cô viết tắt. Chép lại. Bản thứ hai thì chú đọc từ đầu đến cuối, không nói gì, đẩy trả lại.
Cô mang sang Ủy ban. Người ta bắt chờ vì cán bộ tư pháp đang đi xem đê. Mười một giờ ông ấy về, ủng còn bê bết bùn, đọc hai bản sao, so với bản chính từng dòng, ngón tay dò theo chữ. Rồi ông đóng dấu, ký, ghi ngày: *11 tháng 8 năm 1976*. Hai chữ "Sao y bản chính" nằm nghiêng ở góc trên.
Buổi chiều là giấy giới thiệu. Lần này cô viết hai cái tên: *Đồng chí Dương Văn Nhạc, cán bộ thu mua. Đồng chí Lê Ngọc Ngân, lao động hợp đồng tổ thu mua.* Chú Nhạc nhìn dòng thứ hai rất lâu.
"Sao mày không viết là nhân viên?"
"Cháu không phải nhân viên ạ. Viết sai thì người ta hỏi."
Chú gật. Rồi đến giấy đi đường, rồi giấy cắt gạo ở cửa hàng lương thực để lấy tem gạo mười ngày ăn dọc đường. Cuối cùng, ông Cường ký một công văn ngắn gửi Ban chủ nhiệm Yên Trường, đề nghị thanh toán nợ "bằng thóc hoặc nông sản quy đổi tương đương theo giá chỉ đạo".
"Hoặc nông sản quy đổi," Ngân đọc khẽ.
"Ông Cường thêm câu ấy vào," chú Nhạc nói. "Ông ấy biết trong ấy cũng lụt. Nhưng cái câu ấy chỉ là mở cửa thôi. Đổi được hay không thì còn huyện người ta."
Chú gói tất cả vào hai túi ni-lông, mỗi túi một bộ.
"Mày giữ một bộ, tao giữ một bộ. Tao mà có làm sao thì mày vẫn còn giấy."
Rồi chú nói kế hoạch, ngắn như đọc lệnh. Chiều mai đi tàu về Hà Nội. Sáng sớm ngày kia, tàu chợ ở ga Hàng Cỏ vào Thanh. Không có xe. Xe Gaz của cơ quan nằm nhà chờ. Đòi được thóc, có biên bản, thì ra bưu điện huyện gọi điện về, cơ quan cho xe vào chở.
"Ai lái ạ?"
"Bố cái Lệ," chú nói. "Ông Kha. Ông ấy với bố mày chạy cặp với nhau mấy năm. Ông ấy nghe tên mày là đòi đi."
Chị Lệ đang cộng sổ ở bàn bên, không ngẩng đầu. "Bố chị không nói nhiều đâu. Em đừng hỏi chuyện. Hỏi là ông ấy hút thuốc."
Nửa đêm, đồng hồ quả lắc nhà bà Lụa đánh mười hai tiếng. Ngày mười hai bắt đầu.
Ngân đeo chiếc Poljot, cầm ca nhôm, nhắm mắt nghĩ đến màu lá non.
Trong vườn không có bão. Không có tôn bay, không có cây đổ. Đất nâu vẫn ẩm, luống ngải cứu vẫn đứng thẳng như chưa từng có gió trên đời. Dây trầu không cô giâm từ cành trầu của bà Lụa hôm đầu tháng đã bò được nửa thành giếng. Bụi chè xanh giâm cành sau phòng chẩn trị đã ra lá mới, mỏng và bóng.
Cô múc gáo thứ nhất vào ca nhôm, cho cháo sáng mai của bố. Gáo thứ hai tưới luống thuốc. Gáo thứ ba cô mang ra sau giếng, tưới quanh gốc sâm. Ba lá kép vẫn thế. Cây không biết cô sắp đi xa.
Mười ngày tới, bố sẽ không có cháo nấu bằng nước giếng.
Cô đã nghĩ chuyện ấy cả buổi chiều. Mảnh vườn này đi theo cô, cô biết. Ở bất cứ đâu, chỉ cần không ai nhìn, cô vẫn vào được. Nhưng nước giếng thì không đi xa hơn hai bàn tay cô. Cô ở Thanh Hóa, ca nước ở Thanh Hóa. Bố ở Văn Hà.
Cô ra vào bốn lần. Mỗi lần ôm một bó: ngải cứu, tía tô, lá lốt, kinh giới, bó chặt bằng lạt. Đủ cho mẹ mang đến phòng chẩn trị hai tuần, trừ tiền thuốc bổ. Lần cuối, cô hái thêm một nắm tía tô bánh tẻ, gói vào lá chuối khô, nhét đáy túi vải. Rau thì người ta hỏi được. Một nắm lá thì không ai hỏi.
Một giờ kém mười, cô ra hẳn. Trán hơi nóng. Không sao.
Sáng thứ Năm, mẹ dậy trước cả cô.
Mẹ ngồi bên bàn, dưới ánh sáng xám từ cửa sổ, khâu một cái túi vải nhỏ vào mặt trong vạt áo cánh của Ngân. Túi có nắp, cài bằng một cái khuy.
"Giấy tờ để đây," mẹ nói. "Ngủ cũng không phải cởi."
Bà Lụa sang từ sớm, mang theo nắm xôi gói lá sen và hai quả trứng luộc. Bà đặt lên bàn, không nói gì về năm đồng. Đến lúc mẹ định mở miệng, bà giơ tay lên.
"Rằm qua rồi thì đến cuối tháng. Cuối tháng không có thì đến rằm sau. Tôi chạy đi đâu mà sợ."
Sơn ngồi ở chân giường bố, tập xoa hai bàn chân theo cách chị chỉ. Ngón cái ấn vào gan bàn chân, miết từ gót lên. Tay nó nhỏ, ấn không đủ lực, nhưng nó ấn rất cẩn thận, đếm thành tiếng.
Ngân ngồi xuống cạnh giường. Cô cầm cổ tay bố. Bảy mươi.
"Bố," cô nói. "Con đi vào Thanh. Đường bố hay chạy ấy. Con về thì bố kể con nghe đường ấy có những gì nhé."
Bố không đáp. Nhưng ngón trỏ tay phải, cái ngón từng co lại sau mũi kim của ông Khang, khẽ động một lần trên mặt chiếu.
Có lẽ là gió lùa. Có lẽ không.
Tiếng chân lên cầu thang. Chú Nhạc đứng ở cửa, áo mưa còn rỏ nước, không vào.
"Có tin rồi," chú nói. "Đường sắt dưới Ninh Bình sạt một quãng. Người ta bảo chiều nay thông. Người ta cũng bảo thế từ hôm qua."